Tân Bắc: Đô thị vùng quanh bao Đài Bắc, 4,01 triệu người nâng đỡ trung tâm thủ đô qua thời gian đi lại, công nghiệp và ký ức

Thành phố Hùng Sơn đỏ từ năm 1628 khi người Tây Ban Nha đặt viên gạch đầu tiên, đã qua 398 năm. Sớm hơn năm 1875 khi Trần Bảo Chân thành lập Đài Bắc phủ 247 năm. Hôm nay Tân Bắc 29 quận bao quanh Đài Bắc 12 quận, 4,01 triệu người sống trong thành phố trực thuộc lớn nhất toàn Đài Loan, 390.000 người đi làm xuyên tỉnh lên Đài Bắc. Nhưng đô thị «vùng quanh» này không phải thành phố ngủ của Đài Bắc — nó có năm 1853 gia tộc Lâm Bản Nguyên ở Bản Kiều, năm 1869 trà ô-long từ Đạm Thủy bán tới New York, thập niên 1890 mỏ vàng lớn nhất Châu Á Cửu Phần Cầm Quả Thạch, năm 1929 tuyến đường sắt Bình Tất vận chuyển than đá, năm 1947 Lý Mai Thụ(李梅樹) bắt đầu chạm khắc điện thờ Tổ Sư Tam Tích, bộ lạc Đảo Xanh Thái Nghi ở Chiêu Lai. Tân Bắc là bản rút gọn 400 năm Đài Loan, vừa tình cờ nằm ngoài thành phố Đài Bắc.

Tóm lược 30 giây: Năm 1628 người Tây Ban Nha xây dựng Thành phố Thánh Đô Minh ở Đạm Thủy, năm 1643 người Hà Lan xây lâu đài trên khu vực cũ, năm 1867 Anh quốc ký hiệp định «Hợp đồng vĩnh cửu Thành phố Hùng Sơn đỏ» với nhà Thanh, mỗi năm chỉ nộp 10 lượng bạc chữ. Khối gạch này sớm hơn 247 năm so với khi năm 1875 Trần Bảo Chân thiết lập «Đài Bắc phủ» ở Bàng Toa. Hôm nay Tân Bắc 29 quận bao quanh Đài Bắc 12 quận, 4,01 triệu người sống trong thành phố trực thuộc lớn nhất toàn Đài Loan, ngày 25 tháng 12 năm 2010 vừa nâng cấp được 15 năm. Nhưng đô thị «vùng quanh» này có lịch sử kéo xa: năm 1853 gia tộc Lâm Bản Nguyên ba gian nhà lầu ở Bản Kiều, năm 1869 Đô Đức vận chuyển 21.000 kg trà ô-long từ Đạm Thủy tới New York, thập niên 1890 mỏ vàng lớn nhất Châu Á Cửu Phần Cầm Quả Thạch, năm 1929 tuyến đường sắt Bình Tất vận chuyển than đá, năm 1947 Lý Mai Thụ(李梅樹) bắt đầu chạm khắc điện thờ Tổ Sư Tam Tích, bộ lạc Đảo Xanh Thái Nghi của Chiêu Lai. Đài Bắc nhìn thấy là thành phố vệ tinh, Tân Bắc nhìn thấy là 400 năm lịch sử của chính nó.

Viên gạch ở Đạm Thủy, sớm hơn xây thành Đài Bắc 247 năm

Ngoài cảnh kiến trúc gạch đỏ của Thành phố Hùng Sơn đỏ Đạm Thủy, một pháo đài gạch đỏ hình vuông trên đồi, bên cạnh là Tòa nhà lãnh sự đi lại xây thêm năm 1891. 1628 thành phố Thánh Đô Minh Tây Ban Nha, 1644 pháo đài An Đặc Ni Hà Lan, 1867 thuê Anh, 1980 hoàn trả là 400 năm kiến trúc xếp chồng.
Thành phố Hùng Sơn đỏ Đạm Thủy, nơi người Tây Ban Nha đặt viên gạch đầu tiên năm 1628. Ảnh: Wikimedia Commons contributor, CC BY-SA 4.0.

Nếu bạn muốn tìm một vật thể có thể nói lên toàn bộ Tân Bắc, hãy đến Thành phố Hùng Sơn đỏ Đạm Thủy.

Thành phố Hùng Sơn đỏ nằm ở số 28 ngõ 1 Trung Chính Đạm Thủy, một tòa nhà gạch đỏ hình vuông trên một ngọn đồi, bên cạnh là tòa nhà lãnh sự Anh xây thêm hai tầng năm 18911. Từ đây có thể nhìn ra cửa sông Đạm Thủy, Ba Lý, eo biển Đài Loan. Từ năm 1628 đến 1629, hạm đội Tây Ban Nha từ Manila tiến về phía bắc, xây dựng một pháo đài thứ nhất ở vị trí này, «bằng cách sử dụng đất sét, cánh ghi nông, tre và gỗ làm nguyên liệu», được đặt tên Thành phố Thánh Đô Minh (Fort Santo Domingo)1.

Người Tây Ban Nha ở Đạm Thủy 14 năm. Năm 1642 Công ty Đông Ấn Hà Lan tấn công từ Đài Nam lên Thành phố Thánh Sau Mười Vợ Ở Gà Lồng, sau đó tiếp quản Đạm Thủy. Ngày 7 tháng 5 năm 1643, người Hà Lan đặt nền móng lâu đài mới tại vị trí cũ, «viên đá đầu tiên được đặt nền móng chính thức, và bắt đầu xây lâu đài ⋯⋯ cho đến năm 1646 mới hoàn thành hoàn toàn»1. Người Hà Lan mất ba năm để cải tạo pháo đài gỗ do người Tây Ban Nha để lại thành pháo đài gạch Pháo Đài An Đặc Ni (Fort Anthonio). Thân thể gạch đỏ mà chúng ta thấy hôm nay, bộ xương cốt chính là do người Hà Lan đặt xuống năm 1644.

Sau khi nhà Thanh đến, thành này lại đổi chủ một lần nữa. Năm 1724 «Thời đó, Vương Khiêu, quan Đặc Cảnh Báo Cắp Đạm Thủy của Phủ Đài Bắc, bắt đầu tu sửa Thành phố Hùng Sơn đỏ»1. Năm 1867 nhà Thanh và Anh quốc ký kết «Hợp đồng vĩnh cửu Thành phố Hùng Sơn đỏ», «Anh quốc đã thành lập lãnh sự quán ở Đạm Thủy năm 1861, và ký kết «Hợp đồng vĩnh cửu Thành phố Hùng Sơn đỏ» với nhà Thanh năm 1867»1, mỗi năm chỉ nộp 10 lượng bạc chữ. Người Anh ở đây 105 năm, cho đến khi năm 1972 sau khi rút ra giao cho Úc quản lý tạm thời, sau đó giao cho Mỹ quản lý, mới chính thức được Anh bàn giao trả lại chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ngày 30 tháng 6 năm 19801.

Từ Tây Ban Nha 1628, Hà Lan 1644, nhà Thanh 1724, Anh quốc 1867, Úc Đại Lợi, Mỹ, đến năm 1980 trở lại Trung Hoa Dân Quốc, một viên gạch trải qua sáu chế độ cai trị. Năm 1983 được chỉ định là di tích cấp một khu vực Đài Loan-Phúc Kiến, ngày 25 tháng 12 năm 1984 mở cửa cho công chúng tham quan1.

Còn «xây dựng thành» Đài Bắc thì sao? Phải đợi cho đến năm 1875 khi Trần Bảo Chân thăm nuôi thành lập «Đài Bắc phủ», năm 1879 khi Trần Tinh Tương bắt đầu xây thành, năm 1882 khi tường thành Bắc Môn bắt đầu xây dựng, năm 1884 khi hoàn thành mới có. Muộn hơn Thành phố Hùng Sơn đỏ năm 1628 đặt viên gạch đầu tiên 256 năm.

Đây chính là sự thật đầu tiên dễ bị hiểu lầm ở Tân Bắc: «Bao quanh Đài Bắc» này có lịch sử thực tế lâu hơn Đài Bắc chính khoảng hai năm rưỡi thế kỷ.

Năm 1858 mở cửa, năm 1869 trà ô-long tới New York: Cửa sổ đối ngoại đầu tiên

Bên cạnh Thành phố Hùng Sơn đỏ, là cửa sông Đạm Thủy.

Năm 1858 tháng 6, triều Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân với các cường quốc. «Ba cảng Đài Loan (Đài Loan (An Bình), Đạm Thủy, Đả Cẩu (Cao Hùng)) do đó mở cửa với các cường quốc và cho phép du lịch, truyền giáo»2. Triều Thanh lần lượt ký Hiệp ước Thiên Tân với Nga (ngày 13 tháng 6), Mỹ (ngày 18 tháng 6), Anh quốc (ngày 26 tháng 6), Pháp (ngày 27 tháng 6). Ngày 18 tháng 7 năm 1862, Đạm Thủy thành lập quan thuế nước ngoài, đây là cảng đầu tiên của Đài Loan mở cửa cho thương mại toàn cầu chính thức, sớm hơn cảng Cơ Long 21 năm (Cơ Long năm 1883 mới thành lập quan thuế nước ngoài).

Thương gia Anh Đô Đức (John Dodd) chính là lúc đó đến. Năm 1864, anh ta đến Đạm Thủy khảo sát lá trà Đài Loan, thành lập Phòng Bảo Thuận ở Đạm Thủy, cho nông dân miền bắc vay mượn cây trà từ Phúc Kiến An Tây. Năm 1869 «vận chuyển trà ô-long Đài Loan 21.000 kg bằng hai chiếc thuyền buồm trực tiếp tới New York»3. Đây là lần đầu tiên lá trà Đài Loan xuất khẩu tới Mỹ, đi vòng nửa vòng trái đất. «Nhận được lời khen ngợi tốt đẹp» sau đó, trà ô-long bán chạy ở New York, Đạm Thủy cũng theo đó phát triển.

«Từ năm 1864 đến 1894, tổng giá trị thương mại xuất khẩu của Đạm Thủy chiếm 57% toàn Đài Loan, hàng xuất khẩu chủ yếu là trà, đường, cam phòng»4. Những con đường Đạm Thủy có nhân viên hàng hóa nước ngoài nói tiếng Anh, những người mua bán viết thư về Hạ Môn, những người di dân Phúc Kiến cuộn thuốc lá, những thương gia Đài Loan nhập hàng ở Bàng Toa, tất cả chật chội trên một bờ sông. «Đến năm 1878, trà đã chiếm 90% tổng giá trị xuất khẩu miền bắc»5. Đạm Thủy trở thành cửa sổ toàn cầu hoá của miền bắc Đài Loan.

Mã Khải (George Leslie Mackay) cũng đến lúc đó. «Ngày 9 tháng 3 năm 1872, nhà truyền giáo của Hội Thánh Trưởng Lão Công Giáo Canada Mã Khải đặt chân vào Đạm Thủy»6, từ lúc xuống tàu ngày hôm đó, anh ta biết rằng mình sẽ ở lại đây cả đời. Năm 1880 Mã Khải trở lại Canada gây quỹ, nhận được sự giúp đỡ tiền đô từ cư dân tỉnh Ontario Quận Ô-xơ-phố (Oxford County). «Năm ánh sáng thứ 8 (1882) ngày 26 tháng 7 hoàn thành, được đặt tên 'Lý Học Đường Đại Thư Viện'»6. Đây là trường học kiểu Tây phương đầu tiên ở miền bắc Đài Loan, tiền thân của Đại học Chân Lý hôm nay (năm 1965 thành lập trường cao đẳng Quản lý Thương mại Đạm Thủy tại vị trí cũ Học Đường Ô-xơ-phó, năm 1999 nâng cấp thành Đại học Chân Lý).

Nhưng năm 1884 lại xảy ra một cuộc chiến tranh.

Ngày 1 tháng 10, tướng Pháp Cô Bách dẫn bốn chiếc chiến hạm tấn công Hũ Vĩ ở cửa sông Đạm Thủy. Thống chế Tôn Khai Hoa lợi dụng các viên đá để chìm các chiếc tàu cản bít cảng, bố trí thủy lôi, ngăn chặn quân Pháp đổ bộ. «Lưu trữ chính thức của Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Pháp ghi lại quân Pháp tổn thất: 6 người chết, 11 người mất tích, 49 người bị thương»7. Quân Pháp chiếm Cơ Long tám tháng, nhưng Đạm Thủy không bị chiếm đóng.

«Triều Thanh qua trận đó phát hiện ra tầm quan trọng chiến lược hàng hải của Đài Loan, nên sau chiến tranh tuyên bố xây dựng tỉnh Đài Loan, lệnh Lưu Minh Truyền kiêm chức Thứ trưởng Hành pháp Phúc Kiến điều hành»7. Sau chiến tranh Lưu Minh Truyền yêu cầu kỹ sư quân sự người Đức Max E. Hecht lập kế hoạch, năm 1886 hoàn thành pháo đài Hũ Vĩ, tên cánh cổng ghi «Khoá Môn Bắc», có thể thấy cho đến hôm nay7. Đây là sự tương phản đáng nhớ nhất ở Tân Bắc: điểm kích hoạt trực tiếp của việc xây dựng tỉnh Đài Loan là trận chiến nhỏ ở Đạm Thủy.

📝 Ghi chú curation: Sách giáo khoa lịch sử Đài Loan thường nói «Hiệp ước Thiên Tân 1858 → Mở cửa Đạm Thủy 1860 → Xuất khẩu trà ô-long New York 1869» như một chuyện. Nhưng ba sự kiện nén lại là toàn bộ quá trình Đạm Thủy từ một cảng biển vùng biên thành một nút giao thương toàn cầu. Phòng Bảo Thuận nằm gần cảng hải quan Trung Chính Đạm Thủy hôm nay, Học Đường Ô-xơ-phó ở trong khuôn viên Đại học Chân Lý hôm nay, Pháo đài Hũ Vĩ năm 1886 ở phía sau Liệt Sĩ Đền Đạm Thủy. Từ Thành phố Hùng Sơn đỏ tới Học Đường Ô-xơ-phó chỉ cần 10 phút đi, nhưng giữa đó vượt qua 200 năm lịch sử thế giới. Người Đài Loan nói toàn cầu hoá Đài Bắc đều từ 1980 sau. Người Đạm Thủy nhớ là lô trà ô-long 21.000 kg năm 1869 đó.

Bản Kiều Lâm Gia: Năm 1853 trường hợp tư bản chủ nghĩa bản địa đầu tiên

Khu vườn Lâm Bản Nguyên Bản Kiều (Vườn Lâm Gia) một góc sân chính, năm 1888 Lâm Duy Nguyên đầu tư tiền lớn tu sửa, năm 1893 toàn bộ hoàn thành là kiến trúc vườn Trung Quốc cuối thời Thanh. Sau năm 1949 từng bị hơn một ngàn người ba trăm hộ nạn nhân chiếm cứ, gây hư hại nghiêm trọng, năm 1982 sử dụng 165,43 triệu tu sửa, năm 1986 hoàn thành, nay là di tích quốc gia.
Vườn Lâm Bản Nguyên Bản Kiều (Vườn Lâm Gia), hoàn thành năm 1893, vượt 133 năm của trường hợp tư bản chủ nghĩa bản địa Đài Loan đầu tiên. Ảnh: Wikimedia Commons contributor, CC BY-SA via Wikimedia.

Từ Đạm Thủy tiến về phía nam, đi xe nửa tiếng, là Bản Kiều.

Nếu Đạm Thủy là cửa sổ quốc tế của Tân Bắc, Bản Kiều chính là điểm khởi đầu tư bản chủ nghĩa bản địa của Tân Bắc.

Lâm Bình Hậu khởi nghiệp rất sớm. «Lâm Bình Hậu lấy kinh doanh vận chuyển gạo làm sự nghiệp, lại gặp sự kiện Lâm Sảng Văn, giá gạo tăng cao, Lâm Bình Hậu vừa là thương gia gạo, vừa từ kinh doanh vận chuyển gạo thu được lợi nhuận cực phong phú»8. Anh ta sinh năm con trai, con thứ ba (Bản Ký) và con cuối cùng (Nguyên Ký) hợp tác thành lập «Lâm Bản Nguyên» làm tên gia tộc, đây chính là tên chính thức của «Gia tộc Lâm Bản Kiều».

Gia tộc Lâm định cư Bản Kiều là chia làm hai bước. Bước thứ nhất: «Đạo Quang năm 27 (tức năm Tây phương 1847), gia tộc Lâm vì tiện lợi thu tiền thuê nông, xây dựng Bật Ích Quán ở Phương Kiều (tức Bản Kiều hôm nay), đây là lần đầu gia tộc Lâm xây dựng nhà cửa ở khu vực Bản Kiều»8. Bước thứ hai là từ 1851 đến 1853 «Gia tộc Lâm năm Hàm Phong năm nhất (tức năm Tây phương 1851) ở Phương Kiều Bật Ích Quán cạnh xây dựng ba gian nhà lầu, đến Hàm Phong năm 3 hoàn thành sau toàn gia di cư vào»8. Năm 1853 Hàm Phong năm 3, gia tộc Lâm chính thức di cư từ Tân Trang đến Bản Kiều, đây là điểm khởi đầu bản sắc «người Bản Kiều» của gia tộc Lâm.

Tiếp theo là cuộc xung đột vũ trang Trương Tuyền. Năm 1857 sau khi Lâm Quốc Phương (con trai trai cuối cùng của Lâm Bình Hậu) chủ trì gia tộc, cuộc xung đột Trương Tuyền ở Đại Đài Bắc đạt đỉnh cao. Năm 1861 Lâm Quốc Phương muốn lấy lại đất cho người Tuyền Châu thuê, thay đổi thành cho người Trương Châu thuê, gây rối lớn lòng dân toàn Đại Đài Bắc. Sau cuộc xung đột vũ trang này trong hàng chục năm, Bản Kiều trở thành căn cứ địa của người di dân Trương Châu ở Đại Đài Bắc.

Tư bản chủ nghĩa thực sự của gia tộc Lâm nằm ở thế hệ thứ ba Lâm Duy Nguyên, Lâm Duy Nhượng. Năm 1884 Chiến tranh Pháp-Thanh, «Năm Quang Tự thứ 10 (năm 1884), Lâm Duy Nguyên quyên tặng tiền 20 vạn lượng bạc, đồng thời hỗ trợ Lưu Minh Truyền xây dựng quốc phòng Đài Loan và đảm nhận vị trí phó bộ trưởng hành pháp Đài Loan, một bước thành «thương nhân đỏ»9. Gia tộc Lâm từ thương gia gạo nâng lên thương chính, giao dịch trực tiếp với tầng cao nhà Thanh.

Vườn Lâm Gia chính là thời này xây dựng. Năm Quang Tự 14 (1888) Lâm Duy Nguyên đầu tư tiền lớn tu sửa, nối các vùng vườn lại với nhau, năm Quang Tự 19 (1893) mới toàn bộ hoàn thành8. Vườn này hôm nay còn ở Xứ Tây Môn Bản Kiều, tổng diện tích 6.054 tấc, là khu vườn hoàng gia còn lại hoàn chỉnh nhất Đài Loan.

Nhưng sau năm 1949 Chính phủ Quốc Dân Đảng di cư Đài Loan, vườn Lâm Gia Bản Kiều suýt bị phá hủy. «Sau năm 1949 từng có hơn một ngàn người, ba trăm hộ nạn nhân chiếm cứ, gây hư hại nghiêm trọng»8. Hơn một ngàn nạn nhân ngoại tỉnh sống vào vườn Thanh cuối này, nhà vệ sinh, bếp, giá phơi quần áo chật chội giữa các kiosks tháp lâu. Tới năm 1982 cuối cùng, «tu sửa vườn bắt đầu, trải qua 4 năm hoàn thành tu sửa. Tổng kinh phí tu sửa 165,43 triệu đô Đài Loan»8. Năm 1985 được chỉ định là di tích quốc gia, vườn Lâm Gia mà chúng ta thấy hôm nay là phiên bản tu sửa hoàn thành năm 1986.

Từ năm 1853 định cư Bản Kiều, 1888 đầu tư vườn, 1893 hoàn thành, 1949 nạn nhân chiếm cứ, 1982 bắt đầu tu sửa, 1986 hoàn thành, một vườn vượt qua 133 năm lịch sử Đài Loan.

Bản Kiều là thành phố tỉnh (sau nâng cấp thành tỉnh), có mối quan hệ tách rời với gia tộc Lâm. Hôm nay dân số Bản Kiều 54,9 vạn người (số liệu cuối năm 2025), là quận có dân số lớn nhất toàn quốc, cũng là nơi Phủ Thị Chính Tân Bắc đặt tại10. Nhưng lõi của Bản Kiều, thực tế còn ở bên cạnh ba gian nhà lầu năm 1853 đó.

Năm 1890 Cửu Phần Cầm Quả Thạch: 95 năm thời đại mỏ vàng

Thị trấn산địa hình Cửu Phần với kiến trúc bậc thang, nhìn từ trên xuống có thể thấy Cơ Long Ủy. 1890 phát hiện mỏ vàng, 1938 tập trung tám vạn người, 1987 công ty Đài Vàng đóng cửa, 1989 sau khi quay phim «Thành phố Tổn Thương» trở thành điểm du lịch nóng của thị trấn khai thác mỏ.
Thị trấn Cửu Phần, từ thị trấn khai thác mỏ tới biểu tượng du lịch thay đổi hiện trường. Ảnh: Wikimedia Commons contributor, CC BY-SA via Wikimedia.

Từ Bản Kiều tiếp tục về phía đông bắc, là khu núi của Tân Bắc.

Năm 1889, có thợ mỏ phát hiện vàng cát ở sông Cơ Long. Đám người đào vàng theo dòng sông lên, từ 1890 đến 1893 tới Đại Thô Khiếu, năm 1893 phát hiện mạch vàng Tiểu Cầm Quả gần khu vực Cửu Phần. Năm 1894 phát hiện mỏ vàng nội địa Cầm Quả Thạch, đây chính là điểm khởi đầu «Mỏ kim loại quý đầu tiên Châu Á».

Khi kỳ Nhật Trị bắt đầu, quyền khai thác mỏ Cầm Quả Thạch được giao cho tổ Trường Trung. Ngày 26 tháng 10 năm 1896 được phê duyệt cấp cho Trường Trung Trường Binh Hề, anh ta bắt đầu khai thác từ nội địa Cầm Quả Thạch11. Người Nhật đem tới khai thác máy móc, đường ray, điều chế hóa học, Cầm Quả Thạch từ «địa điểm đào vàng tán lạc» thời Thanh trở thành khai trường công nghiệp Nhật Trị.

«Năm 1938 thậm chí đạt đỉnh cao gần bảy vạn hai lượng vàng, làm cho Cầm Quả Thạch thời đó được ca tụng là «Mỏ kim loại quý đầu tiên Châu Á», từng tập trung tám vạn người tại đây để hoàn thành giấc mơ đào vàng»12. Một thị trấn nhỏ trên núi, năm 1938 chứa tám vạn người. So với Chiêu Lai ngày nay (5.800 người), Bình Tất (4.400 người), Song Khê (8.300 người) ba quận cộng lại còn lớn hơn mười lần.

Sau chiến tranh, khai thác mỏ Cầm Quả Thạch tiếp tục, được Công ty Đài Loan Kim Loại Quý (viết tắt «Công ty Đài Vàng») tiếp quản kinh doanh. Nhưng sản lượng vàng năm năm một ít. Năm 1985 Công ty Đài Vàng bắt đầu sắp xếp lại quy mô, mỏ đá và nhà máy chế biến bán dần dần. «Công ty Đài Vàng cuối cùng năm 1987 tuyên bố đóng cửa, còn khu vực mỏ Cầm Quả Thạch được Công ty Đường Duệ Ngành Nước»13. Đây mới chính xác là thời điểm «kết thúc thời đại mỏ vàng» Cửu Phần. Từ phát hiện mỏ vàng 1890 đến Công ty Đài Vàng đóng cửa 1987, toàn bộ 97 năm.

Nhưng câu chuyện Cửu Phần không kết thúc năm 1987.

Năm 1989, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền quay phim «Thành phố Tổn Thương» ở Cửu Phần Cầm Quả Thạch. «Ngày 25 tháng 11 năm 1988, tại Tám Giác Đình phía trước ở Cơ Long Cầm Quả Thạch khởi quay», năm 1989 giành giải Sư Tử Vàng Lễ hội Điện ảnh Venise, «làm cho địa điểm quay phim Cửu Phần, Cầm Quả Thạch trở thành điểm nóng du lịch»14. Khu vực độc lập thập niên mỏ đã được một bộ phim viết lại thành biểu tượng du lịch. Từ 1990 trở đi, những nhà cũ Cửu Phần thay đổi thành nhà trà nghệ thuật, trên núi xuất hiện nhiều xe khách du lịch lớn, «Lỗ Số Năm» «Rạp Hát Thịnh Bình» «Đại Sơn Phố» của thời đại mỏ trở thành địa điểm chụp hình Instagram.

Năm 2004, «dưới sự lãnh đạo Phủ Tỉnh Đài Loan ⋯⋯ Công viên Bảo tàng Vàng chính thức khai mạc»15, là bảo tàng công viên đầu tiên Đài Loan dựa trên khái niệm bảo tàng sinh thái, tích hợp Tòa biệt thự Hoàng Thái thời Nhật Trị, Năm Kho Núi Chính, Ký túc xá công nhân thành một bảo tàng địa phương. Cầm Quả Thạch từ mỏ đá trở thành bảo tàng, mất 17 năm.

Từ góc nhìn khách du lịch Cửu Phần, đây là sự chuyển đổi lãng mạn. Nhưng thế hệ kế thừa công nhân mỏ có thể không nghĩ như vậy. Năm Công ty Đài Vàng đóng cửa, dân số Cửu Phần Cầm Quả Thạch giảm từ tám vạn xuống dưới năm ngàn. Công nhân khai thác vàng rải rác ở Đài Bắc, Cơ Long, Nghi Lan tìm việc, hôm nay người bán khoai mỹ ở phố Cửu Phần, rất nhiều là hậu duệ công nhân khai thác mỏ ngày xưa.

Dấu hiệu kết thúc thời đại mỏ nằm ở năm 1987 Công ty Đài Vàng đóng cửa, chứ không phải 1985 sắp xếp lại. 1985 là bắt đầu nấu ếch trong nước nóng từ từ, 1987 là thời điểm nước thực sự đã sôi cạn.

Năm 1929 Đường sắt Bình Tất, năm 1804 Gốm sứ Anh Ca, năm 1769 Điện thờ Tổ Sư Tam Tích: Chuỗi công nghệ của miền bắc Đài Loan

Đường sắt Bình Tất và phố cũ Mười Phần, năm 1921 đường sắt vận chuyển than của Công ty Khai thác Đài Yang, năm 1929 Tổng độc tài mua lại 1,5 triệu yên chuyển sang quốc doanh kèm vận khách. Hôm nay những chiếc tàu hỏa du lịch, bộ xương cốt là đường sắt vận chuyển than thời kỳ Nhật Trị.
Phố cũ Mười Phần Đường sắt Bình Tất, đường sắt dựa sau năm 1929 chuyển quốc doanh tiếp tục cho đến hôm nay. Ảnh: Wikimedia Commons contributor, CC BY-SA via Wikimedia.

Ngoài Cửu Phần Cầm Quả Thạch, Tân Bắc có một thị trấn khai thác mỏ khác ở thượng lưu sông Cơ Long là Bình Tất.

«Đường sắt Bình Tất năm 1921 (Đại Chính 10 năm) tháng 7 toàn tuyến hoàn thành, ban đầu là tuyến chuyên vận than của Công ty Khai thác Đài Yang»16. Kỳ Nhật Trị thời Công ty Khai thác Đài Yang (do gia tộc Nhan Vân Niên quản lý), ở mỏ Than Thạch Đáy (Bình Tất, Thanh Tông khu vực ngày nay) phát hiện lượng than lớn, năm 1908 do tổ Tổ Tô Thiên Điền khẩn hoạn xác nhận mật độ tích tụ, năm 1921 tự xây dựng một tuyến đường sắt vận chuyển than.

«Năm 1929 (Thiên Hòa 4 năm) ngày 1 tháng 10 được Bộ Đường sắt Tổng độc tài Đài Loan mua lại đường sắt Thạch Đáy bằng 1,5 triệu yên chuyển thành quốc doanh, đặt tên 'Đường sắt Bình Tất', sau khi sửa chữa bắt đầu kèm theo chuyên chở khách»16. Tuyến đường sắt này ban đầu là tuyến chuyên tư vận than, năm 1929 mới được Tổng độc tài mua lại thành «Đường sắt Bình Tất». Hôm nay khách du lịch đi tàu hỏa nhỏ Bình Tất, bộ xương cốt chính là phiên bản quốc doanh năm 1929.

Đèn trời Bình Tất là muộn hơn nữa. «Thời Thanh đạo Quang, người dân khu vực trước tiên từ Huế An và An Tây Phúc Kiến theo nhiều lần chuyển tới khu vực Mười Phần Liêu, lúc đó vì những kẻ cướp gây náo loạn, quấy rầy thị trấn, người dân chỉ được chạy trốn vào núi, chờ cho đến khi nguy hiểm qua đi, mới bởi những thanh niên lưu lại làng dùng đèn trời làm tín hiệu, thông báo cho những người chạy trốn trong lúc gia đình trở lại»17. Một hệ thống tín hiệu tránh nạn, từ những năm 1990 bắt đầu được du lịch hoá, năm 2012 ban hành «Quy định Quản lý Thả Đèn trời Tân Bắc». Hôm nay mỗi năm lễ Nguyên Tiêu, bầu trời Bình Tất lúc nào cũng đầy những chiếc đèn trời màu cam, rất đẹp, nhưng không liên quan gì đến than đá.

Hướng Tam Tích, Anh Ca đi, là một chuỗi công nghệ khác.

Điện thờ Tổ Sư Trường Phúc Tam Tích, năm xây dựng sớm nhất trong các tài liệu khác nhau có phân biệt. ⚠️ Lời nói chính thức phổ biến là «năm Càn Long 34 (năm 1769)»18. Điện thờ trải qua ba lần xây dựng lại: sau trận động đất lớn năm 1833 lần xây dựng đầu tiên, sau khi quân Nhật đi vào năm 1899 điểm tập kết kháng cự bị đốt cháy lần xây dựng thứ hai, năm 1947 lần xây dựng thứ ba. Người chủ trì xây dựng lần này là họa sĩ Lý Mai Thụ(李梅樹).

«Năm 1947 Điện thờ Tổ Sư xây dựng lần thứ ba, cơ quan điện thờ và người dân địa phương cùng nhau bầu chọn Lý Mai Thụ(李梅樹) làm người chủ trì công trình. Lý Mai Thụ(李梅樹) trực tiếp chủ trì quy hoạch xây dựng lại, dùng chuyên môn nghệ thuật mở ra công trình trang trí nghệ thuật Điện thờ Tổ Sư khiến người ta phải trầm trồ, do đó có danh xưng 'Cung Điện Nghệ Thuật Phương Đông'»18. Lý Mai Thụ(李梅樹) là người Tam Tích, một trong những người sáng lập Hiệp hội Mỹ thuật Đài Yang, sau chiến tranh từng làm Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân Tam Tích. Năm 1947 anh ta bắt đầu coi điện thờ này như một tác phẩm nghệ thuật suốt đời, khắc từng cây cột, từng vòm trang trí, từng con sư tử đá như bức tranh dầu. Cho đến khi Lý Mai Thụ(李梅樹) mất đi năm 1983 vẫn chưa hoàn thành, cho đến hôm nay vẫn tiếp tục tu sửa18. Một cái điện thờ, khắc suốt 79 năm, vẫn chưa kết thúc.

Gốm sứ Anh Ca bắt đầu từ gia tộc Ngô thế kỷ 18. «Nền tảng ngành gốm sứ Anh Ca bắt đầu từ năm Gia Khánh 9 (1804), do người Quân Châu Ngô An lần đầu tiên mở lò nung ở khu vực Đại Hồ»19. Ngô An vượt biển đến Đài Loan từ Quân Châu Phúc Kiến, lúc đầu ở thị trấn Thỏ Tử khu vực Qui Sơn Đào Viên, vì cuộc xung đột Trương Tuyền, chuyển đi nhiều nơi, sau cùng định cư Anh Ca Nhọn Sơn Phủ Phố. Toàn bộ thế kỷ 19, ngành gốm sứ Anh Ca bị gia tộc Ngô độc quyền. «Từ năm 1917 trở đi dần dần thành lập 'Nhọn Sơn Gốm sứ Tổ hợp' và 'Nhọn Sơn Gốm sứ Sản xuất Bán hàng Tổ hợp' v.v., phá vỡ tình trạng độc quyền của gia tộc Ngô. Năm 1939 đưa vào lò Bốn Phương kiểu Nhật Bản, làm tăng đáng kể hiệu suất và chất lượng gốm sứ Anh Ca»19. Từ 1804 đến hôm nay, Anh Ca sản xuất gốm sứ được 222 năm. Ngày 26 tháng 11 năm 2000 Bảo tàng Gốm sứ Anh Ca Thành phố Tân Bắc chính thức khai mạc, là bảo tàng đầu tiên toàn Đài Loan lấy gốm sứ làm chủ đề19.

Phố cũ Tam Tích là một câu chuyện khác. «Từ 1886 đến 1920, được gọi là thời kỳ vàng son của Tam Giác Dâng nhuộm, toàn bộ phố Tam Giác Dâng ngoài Lâm Mao Hưng tiệm nhuộm, còn có Vĩnh Thái, Kim Liên Xuân, Lưu Thành Phương, Lý Nghĩa Phát, Chu Thắng Phát, Lâm Vinh Tường, Lâm Nguyên Cát v.v. cộng 20 tiệm nhuộm, thành nên khu vực nhuộm xanh quan trọng nhất miền bắc Đài Loan»20. Ba ngành công nghiệp chính Tam Tích cùng lúc nở rộ: nhuộm xanh (cây mã tiêu xanh), cam phòng (từ rừng Tam Tích), trà (năm 1868 thương gia Anh Đô Đức phát triển, kỳ Nhật Trị Công ty Tam Tuyền hợp danh thành lập nhà máy trà). Hôm nay kiến trúc phố cũ Tam Tích vẫn còn từ năm Tây phương 1911, «giữ lại những ngôi nhà thương mại từ kỳ Nhật Trị, những hàng vòm gạch liên tục và những kiến trúc cổ xưa»20.

Từ Cửu Phần Cầm Quả Thạch (ngành khai thác mỏ) → Bình Tất (vận chuyển than) → Tam Tích (nhuộm xanh cam phòng trà) → Anh Ca (gốm sứ), Tân Bắc khu vực núi phía đông bắc với đại lục phía tây nam nối thành một chuỗi ngành công nghiệp truyền thống hoàn chỉnh. Chuỗi này từ 1980 trở đi dần dần được du lịch hoá, nhưng xương cốt vẫn còn.

Dân tộc Khải Đạt Cách Lâm và Dân tộc Thái Nghi: Hai trục lịch sử dân tộc thiểu số

Lịch sử Tân Bắc không bắt đầu từ người Tây Ban Nha.

Ba Lý phía nam cửa sông Đạm Thủy, là nơi di tích Mười Ba Hàng tọa lạc. «Di tích Mười Ba Hàng nằm ở phía nam giao điểm cửa sông Đạm Thủy của quận Ba Lý thành phố Tân Bắc, là di tích khảo cổ quan trọng của miền bắc Đài Loan, chủ nhân sinh tồn tại khoảng 2.000 năm đến 400 năm trước, là cư dân tiền sử Đài Loan xác định có kỹ thuật luyện sắt, rất có khả năng là tổ tiên dân tộc Khải Đạt Cách Lâm bản địa Đài Loan»21. Năm 1998 phòng trưng bày được đổi tên thành «Bảo tàng Mười Ba Hàng», năm 2003 chính thức hoàn thành mở cửa.

Dân tộc Khải Đạt Cách Lâm không chỉ ở Ba Lý. «Hôm nay nhiều địa danh Đài Bắc là phiên âm từ ngôn ngữ Khải Đạt Cách Lâm, ví dụ: Đại Long Phong, Bắc Đầu, Phán Lý An, Ba Lý, Bàng Toa, Gia Chấp v.v.»21. Ba Lý, Tam Chỉ, Thạch Môn, Đạm Thủy, Bắc Đầu những địa danh này đều là phiên âm chữ Hán từ ngôn ngữ Khải Đạt Cách Lâm. «Đạm Thủy» tên gọi này chính nó, có thể là người di cư Phúc Kiến kỳ thanh sau khi nghe dân tộc Khải Đạt Cách Lâm nói «Tampsui» (dòng sông nước đục) phiên âm chữ Hán.

Nhưng tiếp xúc của dân tộc Khải Đạt Cách Lâm với người Hán là bất đối xứng. Sau khi mở cửa Đạm Thủy 1858, nhà truyền giáo phương Tây và di cư người Hán cùng lúc đổ vào miền bắc Đài Loan, dân tộc Khải Đạt Cách Lâm cuối thế kỷ 19 đã Hán hoá lớn. Hôm nay quận Đạm Thủy, Ba Lý, Tam Chỉ còn những hậu duệ dân tộc Khải Đạt Cách Lâm lẻ loi, nhưng rất khác so với «cấu trúc bộ lạc rõ ràng» của dân tộc A Mỹ, dân tộc Bài Uyên, họ đã mất ngôn ngữ gần như hoàn toàn.

Trục lịch sử dân tộc thiểu số khác của Tân Bắc ở Chiêu Lai.

Quận Chiêu Lai là quận dân tộc thiểu số của sơn địa duy nhất trong 29 quận Tân Bắc, khu vực bảo tồn dân tộc Thái Nghi. Chiêu Lai có bốn bộ lạc chính: bộ lạc Chiêu Lai (Ulay, khu vực du lịch chính), bộ lạc Trung Trị (Tampya), bộ lạc Tín Hiền (Rahaw, Lạp Hào Xã, có nghĩa là «rừng cây dày đặc»), bộ lạc Phúc Sơn (Tranan, Đức La Nam)22.

«Bộ lạc Phúc Sơn phát âm theo tiếng Thái Nghi gọi là 'Đức La Nam', là bộ lạc sâu nhất của Chiêu Lai, cũng là nơi dân tộc Thái Nghi từ Đào Viên Phục Hưng Quận Thượng Ba Lăng vượt qua núi tới Chiêu Lai điểm cơ sở đầu tiên»22. Vị trí Đức La Nam rất then chốt, nó kết nối với Đảo Xanh Sơn Lạp từ Đào Viên Phục Hưng là cùng một hệ thống di dân dân tộc Thái Nghi. Thế kỷ 17, 18, dân tộc Thái Nghi từ làng Phát Tường Nhân Ái Quận Nam Đầu (Pinsbukan, quê nhà của dân tộc Thái Nghi) di cư về phía bắc, một phần người vượt qua Đảo Xanh Sơn tới Chiêu Lai, một phần người ở lại Đào Viên Phục Hưng. Hôm nay bộ lạc Phúc Sơn Chiêu Lai và bộ lạc Đảo Xanh Sơn Đào Viên, nói chuyện là cùng một phương ngôn tiếng Thái Nghi.

Lịch sử suất nước nóng Chiêu Lai bắt đầu từ thời Nhật Trị: «Năm 1903 kỹ sư Thâm Phiêu Trường Đơn Dã Anh Thanh phát hiện được ở thung lũng Nam Thế Tuyến, thiết lập phòng tắm công nhân quản lý thổ dân Chiêu Lai»22. Người Nhật Bản coi Chiêu Lai thành khu vườn sau của người Đài Bắc. Bản sắc này tiếp tục cho đến hôm nay, Chiêu Lai trở thành «nông thôn dân tộc thiểu số» được du lịch hoá nhất trong 29 quận Tân Bắc. Nhưng cốt lõi thực của Chiêu Lai, vẫn ở những bộ lạc sâu này như Phúc Sơn, Tín Hiền, địa điểm những chiếc xe buýt du lịch không thể tới được.

Từ dân tộc Khải Đạt Cách Lâm (Đạm Thủy) tới dân tộc Thái Nghi (Chiêu Lai), Tân Bắc bao gồm hai trục lịch sử dân tộc thiểu số: một trục là «gần như mất đi» của bộ tộc bằng phẳng, một trục là «tồn tại liên tục» của bộ tộc cao sơn. Hai trục lịch sử này đều không nằm trong thành phố Đài Bắc.

Năm 1958 Vĩnh Hòa tách thành, những năm 1970 di cư công nghiệp Tam Trọng Tân Trang, năm 1979 Đầm Hai Kỳ Hồ: Ba làn sóng mở rộng sau chiến tranh

Bùng nổ dân số Tân Bắc sau chiến tranh xảy ra chia làm ba làn sóng.

Làn sóng thứ nhất ở những năm 1950 Trung Hòa, Vĩnh Hòa. Sau năm 1949 Chính phủ Quốc Dân Đảng di cư Đài Loan, «Chính phủ xem xét phòng chống hàng không ở thành phố Đài Bắc, diễu khu vực Trung Hòa huyện Vĩnh Hòa làm khu vực sơ tán, dân số tăng nhanh»23. Năm 1956 dân số huyện Trung Hòa đã đạt 44.325 người, gấp nhiều lần năm 1945. Ngày 1 tháng 4 năm 1958, «huyện Trung Hòa tách ra bộ lạc toàn bộ sáu làng Qui Lung Lâm Tây Châu và lần lượt một làng mỗi Tích Thi, Tủu Lang khu vực, chính thức thành lập thị xã. Dự định ban đầu thị xã tên là Trung Hưng Thị xã, nhưng vì lo có tên trùng Trung Hưng Tân Thôn, nên định tên là Vĩnh Hòa Thị xã»23. Trung Hòa, Vĩnh Hòa chính thức tách thành.

Mật độ thực sự Vĩnh Hòa là muộn hơn. 1980 đến những năm 1990 «rất nhiều người tị nạn từ Sơn Đông Hàn Quốc chuyển đến Đài Loan, định cư ở Vĩnh Hòa»24. Phố Trung Hưng Vĩnh Hòa trở thành «Phố Hàn Quốc», bán hàng hóa Hàn Quốc, ẩm thực Hàn Quốc, trà nhân sâm. Đường phố này từ những năm 1970 sau dần dần thay đổi, trở thành thương mại bán hàng hóa Hàn Quốc, ẩm thực Hàn Quốc. Bản đồ ẩm thực Vĩnh Hòa, mật độ dân số, thành phần di cư, tất cả không thể tách rời khỏi định vị ban đầu năm 1949 «khu vực sơ tán Thành phố Đài Bắc» này.

Làn sóng thứ hai ở những năm 1970 Tam Trọng, Tân Trang.

«Dân Quốc 6, 7 thập niên (những năm 1960, 1970) chính là thời kỳ Mười Đại Công trình Kinh tế Cất cánh, Tam Trọng cũng toàn bộ phát triển, những nhà máy nhỏ ngự ở giữa những làng xóm, ba bước một gia, năm bước một nhà, hầu hết từ sự kiện vít, khuôn đúc, vợ chồng điện, mạ điện, tiện, phun nhựa v.v. nửa hoàn thành từng phân công tạo ra công nghiệp, quy mô lớn output, nâng đỡ phía bắc toàn tỉnh công nghiệp máy móc»25. Nhà máy Tam Trọng là kiểu Đài Loan «gia đình chính là nhà máy», mỗi con phố đều có người làm vít, tiện, mạ điện.

«Tam Trọng nằm ở đầu và cuối cao tốc, giao thông nam bắc tiện lợi, lại một dòng nước cách biệt với thành phố Đài Bắc phồn vinh, hai điều kiện ưu tú này, làm cho Tam Trọng trở thành thành phố di cư lớn nhất toàn tỉnh»25. Những năm 1970 dân số nông thôn miền giữa nam Đài Loan di cư lên phía bắc lớn, Tam Trọng là nơi cơ sở đầu tiên họ hạ cánh: một bên là sông Đạm Thủy, một bên là Đài Bắc, tiền thuê rẻ, việc làm nhiều. Người di cư thế hệ hai Vân Lâm, Giai Nghĩa, Chương Hóa, Bình Đông, Bình Đông, rất nhiều người lần đầu tiên trong cuộc sống là Tam Trọng.

Phát triển công nghiệp Tân Trang cũng bắt đầu từ những năm 1970: «Thành lập khu công nghiệp Đầu Trước, khu công nghiệp Tây Thịnh, là điểm chuyển mấu chốt của Tân Trang từ nông thôn nước ngoài tiến vào thành phố công nghiệp ⋯⋯ ngành công nghiệp chủ yếu chiếm tỷ lệ hóa chất, dệt may, máy móc, kim loại, những ngành công nghiệp này thu hút lượng lớn dân số công nghiệp, người nước ngoài liên tiếp di cư nhân khẩu tăng nhanh»25. Tân Trang Tam Trọng nối liền nhau, từ bờ tây sông Đạm Thủy hướng phía đất cao Lâm Khẩu kéo dài một dải thị trấn công nghiệp.

Nhưng quá nhiều nhà máy chính là quá nhiều phát thải, quá nhiều nước thải, quá nhiều nguy hiểm lũ lụt. Năm 1979 chấp nhận hộ tư công lệnh lệnh kế hoạch phòng chống lũ lần thứ 1, năm 1982 bắt đầu triển khai, năm 1984 hoàn thành, đây là «Đầm Hai Kỳ Hồ»26. «Chủ yếu nhằm phòng chống lũ lụt Tam Trọng, Tân Trang, Ngũ Cổ, Lỗ Châu v.v. khu vực, đồng thời tiếp nhận những hộ nạn nhân di cư nhà máy hợp pháp xung quanh kỳ hồ sử dụng»26. Một dòng sông nhân tạo, dẫn nước lũ dư thừa từ Tam Trọng, Tân Trang hướng cửa biển, vừa tập trung an cư những hộ nạn nhân nhà máy di cư. Hôm nay vùng xanh hai bên kỳ hồ, đường xe đạp, ban đầu là các thung lũng chảy của chi lưu sông Đạm Thủy.

Làn sóng thứ ba ở 2000 thập niên Lâm Khẩu, phó đô thị Tân Trang.

Từ năm 2003 Tân Bắc khởi động Lâm Khẩu tái phân khu và phát triển phó thủ đô Tân Trang, tiếp nhận từ thành phố Đài Bắc chuyển ra, mua không nổi giá nhà Đài Bắc tầng lớp trung bình. Lâm Khẩu từ đất cao lâu đài quân sự và nông trại, 10 năm nội trở thành thị trấn mới 100.000 người, Đại học Thể dục Quốc lập Lâm Khẩu, Bệnh viện Trường Lâm Khẩu, Lâm Khẩu ba Tuyền outlet, Ga Cao tốc Lâm Khẩu, toàn bộ sau năm 2000 xây dựng. Phó thủ đô Tân Trang tiếp nhận tuyến métro Tân Trang (2010 thông tuyến), máy bay Cơ Trường (2017 thông tuyến) lợi thế giao thông kép.

Từ Vĩnh Hòa 1950, Tam Trọng Tân Trang 1970 tới Lâm Khẩu phó thủ đô 2000, mở rộng dân số Tân Bắc, mỗi 20 năm có một làn sóng. Mỗi làn sóng đều tiếp nhận trộm lén Đài Bắc, người bắc định cư tiếp nước lũ, di cư Đài Loan miền giữa nam.

Nâng cấp tỉnh thành lập trực thuộc ngày: Đợi 31 năm của «toàn quốc lớn nhất»

Sau tiếp nhận ba làn sóng mở rộng, dân số tỉnh Đài Bắc năm 2009 đạt 3,86 triệu.

«Tỉnh Đài Bắc từ năm 1979 vì dân số đạt ngưỡng thành phố trực thuộc, nhiều lần tranh thủ cải cách, đều bị từ chối»27. Nhưng Đài Bắc 1979 chỉ có 2,5 triệu người, so với Đài Bắc thời đó (2,3 triệu), Cao Hùng (1,3 triệu), đã là địa phương chính phủ dân số lớn nhất toàn quốc. Tuy nhiên trung ương luôn từ chối để Tỉnh Đài Bắc nâng cấp. Nâng cấp có nghĩa là phân bổ lại ngân sách, nhân sự quyền, Đài Bắc thành phố lẫn trung ương không muốn buông tay.

Tranh thủ 31 năm. Năm 2007 tháng 5 Viện Lập pháp ba lần đọc phê duyệt sửa đổi «Luật Chế độ Địa phương», dân số hơn 2 triệu người Tỉnh Đài Bắc có thể dùng quy định thành phố trực thuộc. Năm 2009 tháng 6 ngày 23 Bộ Nội vụ thẩm định phê duyệt. «Năm 2010 tháng 12 ngày 25, Tỉnh Đài Bắc nâng cấp thành thành phố trực thuộc «Tân Bắc thành phố», Phủ Tỉnh Đài Bắc đổi tên thành «Phủ Thành phố Tân Bắc», tên tiếng Anh là «New Taipei City», trở thành thành phố trực thuộc có dân số lớn nhất Trung Hoa Dân Quốc»28. Cùng ngày với Đài Trung thành phố, Đài Nam thành phố, Cao Hùng thành phố cùng lúc cải cách (năm thành phố cải cách).

«Tân Bắc thành phố» tên gọi này chính nó có sự kiện. Ban đầu Phủ Tỉnh Đài Bắc đề xuất gọi «Tân Bắc thành phố», «Bắc Đài thành phố», «Tỉnh Đài Bắc thành phố», «Đông Bắc thành phố» v.v. Cuối cùng chọn «Tân Bắc» (New Taipei), dịch theo tiếng Anh. Điều này khác với các thành phố cải cách cùng kỳ «Đài Trung», «Đài Nam», «Cao Hùng» ba thành phố giữ lại tên gọi lịch sử. Tân Bắc là năm thành phố trực thuộc duy nhất tên «mới sinh», cũng là trường hợp duy nhất «tỉnh nâng cấp thành phố trực thuộc» (không phải hợp nhất tỉnh thành phố)28.

15 năm trôi qua. Hôm nay Tân Bắc 29 quận, tổng dân số 4.041.149 người (tháng 4 năm 2026), vẫn là thành phố trực thuộc lớn nhất toàn quốc10. Nhưng số «29 quận» chính nó chính là sự chia tách bên trong Tân Bắc. Bản Kiều (54,9 vạn), Tân Trang (40 vạn+), Trung Hòa (40 vạn+), Tam Trọng (30 vạn+), Tân Điếm (30 vạn+) năm quận lớn, so với Chiêu Lai (5.800), Bình Tất (4.400), Song Tây (8.300), Cung Liêu (11.000), Tọa Lâm (6.300) năm quận núi, chênh lệch 100 lần.

Bản sắc thực Tân Bắc là thế này: một thành phố trực thuộc nhồi những thành phố ba tuổi khác nhau, bao gồm Bản Kiều Tam Trọng Tân Trang Vĩnh Hòa những «khu thị thành phố», Lâm Khẩu Đạm Thủy phó thủ đô những «thị trấn mới», Ruỳ Phương Bình Tất Chiêu Lai Cung Liêu những «nông thôn/biển bờ nước ngoài». 29 quận chênh lệch bên trong, lớn hơn chênh lệch Tân Bắc Đài Bắc.

Đô thị vùng quanh bao Đài Bắc: 390.000 người dựa vào thời gian đi lại duy trì thủ đô

Bản đồ phân chia hành chính thành phố Tân Bắc, 29 quận bao quanh 12 quận thành phố Đài Bắc đô thị vùng quanh cấu trúc. Bản Kiều (nơi Phủ Thành phố, 54,9 vạn người) nằm bên tây bờ sông Đạm Thủy, Chiêu Lai, Bình Tất, Ruỳ Phương v.v. quận núi nằm ở góc tây nam và góc đông bắc.
Bản đồ hành chính 29 quận Tân Bắc, cấu trúc vùng quanh của thành phố trực thuộc lớn nhất toàn quốc. Bản đồ: Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.

Từ Đài Bắc 101 nhìn Tân Bắc.

Hướng đông: Nam Hương kéo dài Tích Chỉ, hướng bắc kết nối Cơ Long. Hướng bắc: Thiên Mẫu ngoài bên là Bắc Đầu, ngoài bên nữa là Đạm Thủy. Hướng tây: Bản Kiều, Tân Trang ở bên tây sông Đạm Thủy. Hướng nam: Vĩnh Hòa, Trung Hòa sát sao Công Quán, tiếp tục hướng nam là Tân Điếm.

Tân Bắc 29 quận, bao quanh thành phố 12 quận thành phố Đài Bắc thành một hình tròn. Một thành phố trực thuộc hoàn toàn bao quanh một thành phố trực thuộc khác, đây ở toàn thế giới là hiếm gặp địa lý hành chính.

Và chức năng lõi của đô thị vùng quanh này, chính là thời gian đi lại.

Tháng 4 năm 2026, tổng dân số thành phố Tân Bắc 4.041.149 người10. Trong đó đi làm xuyên tỉnh tới thành phố Đài Bắc, ước tính hơn 390.000 người29. Sáng 7-9 giờ, từ Bản Kiều, Tam Trọng, Tân Trang, Vĩnh Hòa, Trung Hòa, Tân Điếm, Tích Chỉ hướng thành phố Đài Bắc tuyến métro, buýt, ôtô, chặn cây cầu hai bờ sông Đạm Thủy không thể xoay. Chiều 5-7 giờ ngược lại, lại chặn một lần.

Mạng lưới métro Tân Bắc từ từ mọc ra. Năm 1996 tuyến Đạm Thủy thông tuyến (từ ga Đài Bắc tới Đạm Thủy), 1997 tuyến Trung Hòa (từ Nam Thế Giác tới Đài Bắc), 1998 tuyến Tân Điếm (từ Tân Điếm tới Đài Bắc) lần lượt thông tuyến, những cái này đều là «Hệ thống Vận chuyển Hành khách Trên Đất Liền Đô Thị Đại Đài Bắc» kế hoạch từ những năm 1980 tuyến kéo dài. Năm 2017 tuyến Cơ Trường thông tuyến, 2018 năm Đạm Hải Nhẹ Lục Sơn Tuyến thông tuyến, 2020 ngày 31 tháng 1 tuyến Hình Trạng chính thức vận hành (chiều dài toàn bộ 15,4 km, 14 ga, tuyến bước một độ 1 bao gồm Tân Trang, Bản Kiều, Trung Hòa, Tân Điếm)30. Hôm nay 29 quận Tân Bắc, còn 16 quận có tuyến métro, còn lại 13 quận (bao gồm Chiêu Lai, Bình Tất, Cung Liêu, Song Tây, Tọa Lâm, Thạch Điếu, Sâu Phó, Tam Chỉ, Thạch Môn, Kim Sơn, Vạn Lý, Ruỳ Phương, Bình Tất), hoàn toàn không có tuyến métro nào.

Đây chính là hiện trường vật lý của «390.000 người thời gian đi lại». Mối quan hệ thời gian đi lại Tân Bắc «dựa vào để duy trì thủ đô» là mỗi ngày sáng sớm ở ga Bản Kiều, Tân Trang Đầu Trước, Tam Trọng Đài Bắc Cầu dưới xếp hàng lên tàu của hiện thực hình ảnh, không chỉ là tu từ.

📝 Ghi chú curation: Câu chuyện mạng lưới phổ biến là «Tân Bắc là thành phố ngủ của Đài Bắc», nhưng câu chuyện này có hai điểm mù. Điểm mù thứ nhất: coi Tân Bắc như một thành phố duy nhất, bỏ qua sự tồn tại song song ba tuổi 29 quận bên trong. Chiêu Lai bộ lạc Đảo Xanh Thái Nghi Vườn Lâm Gia Bản Kiều cùng nằm trong một thành phố trực thuộc. Điểm mù thứ hai: quan hệ thời gian đi lại thực tế là hai chiều. 390.000 người Tân Bắc tới Đài Bắc làm việc, nhưng cùng lúc, cung cấp nước thành phố Đài Bắc, rác thải, nghĩa địa, nhà máy bảo trì métro, xe bus chuyên chở, cung cấp nông sản, rất nhiều ở sơn địa Tân Bắc sông miệng. Nước Đạm Thủy từ Chiêu Lai Nam Thế Tuyến, rác thành phố Đài Bắc chôn Tích Chỉ, nghĩa địa Kim Sơn, công viên bên bờ Bản Kiều. Mối quan hệ Tân Bắc Đài Bắc là cần lẫn nhau, không phải phụ thuộc một chiều. Năm 1853 khi gia tộc Lâm từ Tân Trang di cư Bản Kiều, Đài Bắc «Đài Bắc phủ» vẫn chưa thiết lập. Ai trước ai sau, nhìn từ lịch sử rõ ràng lắm.

Năm 2000 Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế Cung Liêu: Một trục thứ hai trên bãi biển rock

Nếu bạn muốn xem văn hóa đương đại Tân Bắc, đừng chỉ tới Bản Kiều hay Đạm Thủy. Tới Phúc Lăng.

Bãi tắm biển Phúc Lăng ở góc tây bắc Cung Liêu thành phố Tân Bắc, sát sao Thái Bình Dương. «Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế đầu tiên năm 2000 tháng 7 ngày 15 tại bãi tắm biển Phúc Lăng huyện Cung Liêu tỉnh Đài Bắc tổ chức, kéo dài chỉ 1 ngày, cộng tính khoảng 8.000 lần tham dự»31. Đây là khởi đầu sau này trở thành «Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế Cung Liêu», một trong những sự kiện âm nhạc độc lập Đài Loan năm hằng năm quan trọng nhất.

⚠️ Năm bắt đầu chính xác Lễ hội Âm nhạc này là 2000 (Ethan 0 ghi chép Stage 1999, được điều chỉnh tại đây).

«Lễ hội Âm nhạc Biển ban đầu do Phủ Tỉnh Đài Bắc Công ty Âm nhạc Độc lập Thủ tướng Góc Hầu phối hợp phát động, nhân vật xúc tác hoạt động chính là Tổng giám đốc Âm nhạc Góc Hầu Trương Bốn Mươi Ba và Thư phòng báo chí Phủ Tỉnh Đài Bắc lúc đó Liêu Chí Kiên»31. «Hohaiyan (Hỗ Hải Dương) là từ ngôn ngữ từ một trong các dân tộc bản địa Đài Loan là dân tộc A Mỹ, là từ ngữ liên quan sóng biển»31. Tên gọi lễ hội âm nhạc chính nó chính là một trục lịch sử dân tộc thiểu số.

Từ năm 2000 đến hôm nay, lễ hội âm nhạc biển chạy qua 26 lần (giữa 2020-2021 tạm dừng vì dịch). Xoáy Xà Đà, Tự vệ, Chủ tịch Độc thân, Năm Tháng Năm, Vòng quay Lạc Thuyên, Tiếng vang, Người con gái và Máy Móc, Tizzy Bac, Sự thay đổi Khảng Sĩ Đằng Nhuận, Lạc Nhật Phi Xe, Xin chào Ni Cô, những ban nhạc chính thống âm nhạc độc lập Đài Loan 25 năm quan trọng nhất, gần như tất cả đều hát ở bãi biển Phúc Lăng.

Ý nghĩa trục âm nhạc này nằm ở: Tân Bắc cung cấp một không gian văn hóa công cộng Đô thị Đài Bắc không nằm trong thành phố Đài Bắc. Phúc Lăng cách ga Đài Bắc một giờ rưỡi lái xe, hai giờ tàu khu vực. Mỗi năm hè tháng 7 cuối tháng 8 đầu, hàng chục ngàn thiếu niên từ thành phố Đài Bắc, thành phố Tân Bắc, Đào Viên, Tân Trúc xuống tàu ga Phúc Lăng, từ ga Phúc Lăng đi bộ tới bãi biển. Chuyến «di cư tạm thời» này Tân Bắc duy nhất có: thành phố Đài Bắc không có biển, biển Đào Viên cách đô thị quá xa, nhưng Phúc Lăng vừa đúng trong 60 km.

Thành phố Tân Bắc cũng cố gắng kéo dài trục âm nhạc này tới khu thị thành phố. Năm 2022 Trung tâm Âm nhạc Phổ biến Tân Bắc bắt đầu hoạt động ở Phó thủ đô Tân Trang, nhưng Trung tâm Âm nhạc Phổ biến sau cùng khác với bên bãi biển. Điểm đặc biệt Phúc Lăng, nằm vì nó ở bên cạnh nhà máy hạt nhân 4 đã xây dựng năm 1979 (đã dừng xây dựng), cát trắng, Thái Bình Dương, gió bão cuối hè, tất cả các yếu tố cộng lại mới có cảm giác «bãi biển rock cách thủ đô vừa đủ xa» đó.

Từ 1628 đến 2026: 400 năm đều ở thành phố bao quanh Đài Bắc này

Trở lại viên gạch đầu tiên.

Thành phố Hùng Sơn đỏ Đạm Thủy từ năm 1628 đặt viên gạch đầu đến hôm nay năm 2026, đã qua 398 năm. Trong thời gian đó kinh qua Tây Ban Nha, Hà Lan, nhà Thanh, Anh quốc, Úc Đại Lợi, Mỹ, Trung Hoa Dân Quốc, dài hơn cả bản thân Trung Hoa Dân Quốc «bản sắc» (từ 1945 tính từ) gần năm lần.

Nhưng tên gọi thành phố «Tân Bắc», năm nay mới 15 tuổi.

Nhưng đô thị vùng quanh bao Đài Bắc, không bao giờ là năm 2010 mới có. Từ 1628 Thành phố Hùng Sơn đỏ Tây Ban Nha, 1738 Điện thờ Tổ Sư Tam Tích lần bắt đầu xây dựng đầu tiên (hoặc 1769 lần xây dựng thứ hai nói), 1804 Anh Ca Ngô An mở lò nung, 1853 Gia tộc Lâm Bản Nguyên ba gian nhà lầu Bản Kiều, 1858 mở cửa Đạm Thủy, 1869 Trà ô-long tới New York, 1872 Mã Khải đặt chân Đạm Thủy, 1890 Cửu Phần Cầm Quả Thạch phát hiện mỏ vàng, 1893 Vườn Lâm Gia hoàn thành, 1929 Tuyến đường sắt Bình Tất thông tuyến, 1947 Lý Mai Thụ(李梅樹) bắt đầu chạm khắc Điện thờ Tổ Sư, 1958 Trung Hòa Vĩnh Hòa tách thành, 1970 thập niên di cư công nghiệp Tam Trọng Tân Trang, 1987 Công ty Đài Vàng đóng cửa, 2000 lễ hội âm nhạc Cung Liêu lần đầu, 2010/12/25 nâng cấp tỉnh thành lập trực thuộc, lịch sử Tân Bắc là một trục thời gian 400 năm mật độ cao.

29 quận, ba tuổi thành phố, 4,01 triệu người, mỗi ngày 390.000 người di cư tới Đài Bắc đi làm, nhưng thành phố chính nó lâu hơn thủ đô hai năm rưỡi thế kỷ. Sự thật dễ bị hiểu lầm nhất Tân Bắc chính là nó không bao giờ là «thành phố vệ tinh».

Từ Đài Bắc nhìn, Tân Bắc là vệ tinh. Từ Thành phố Hùng Sơn đỏ Đạm Thủy nhìn, Đài Bắc mới là hàng xóm xuất hiện sau.

Lần sau tới Tân Bắc, đừng chỉ đi vòng xuyên hành lang Vườn Lâm Gia Bản Kiều (dù vườn năm 1893 vẫn đáng tiêu hao một buổi chiều), đừng chỉ ở phố Đạm Thủy ăn cá thơm (dù Đạm Thủy thực sự từ Hiệp ước Thiên Tân 1858 mở cửa có xương cốt thương mại). Thử từ ga Phúc Lăng đi bộ tới bãi biển, nghe Lễ hội Âm nhạc Biển 2000 năm tiếp tục tới hôm nay (nếu bạn tháng 7 cuối đi). Thử xuống tàu Bình Tất tới ga Thanh Tông, xem Than Thạch Đáy 1908 phát hiện thay đổi thành tuyến đường sắt du lịch (dọc đường còn sót lại dấu vết đường sắt vận chuyển than). Thử từ Chiêu Lai lên xe buýt tới bộ lạc Phúc Sơn, xem con đường Đảo Xanh Thái Nghi Đức La Nam.

Đi xong sau đó bạn sẽ nhớ một điều: Thành phố Tân Bắc không phải thành phố ngủ bao quanh Đài Bắc. Thành phố Tân Bắc là đồng hồ lịch sử bao bọc Đài Bắc — chỉ là những con số mặt đồng hồ, vừa tình cờ không phải số Đài Bắc mà thôi.

Đọc thêm

  • Thành phố Cơ Long — Loạt 22 tỉnh thành thí điểm: Cảng Cơ Long sông Đạm Thủy từ 1858 mở cửa tạo nên hai cửa sổ chính miền bắc Đài Loan, 1910 thập niên Cảng Cơ Long vượt cảng Đạm Thủy, nhưng 1628 Thành phố Hùng Sơn đỏ chậm hai năm so với 1626 Thành phố Thánh Sau Mười Vợ từ lúc đặt viên gạch đầu tiên
  • Thành phố Đào Viên — Loạt 22 tỉnh thành: đô thị vùng quanh anh em 2014 nâng cấp thành phố trực thuộc chậm bốn năm so với Tân Bắc, Sân bay Đào Viên năm 1979 kích hoạt tiếp tay từ Đạm Thủy Cơ Long 100 năm lũy tích đối ngoại khách vận cửa sổ
  • Tỉnh Nghi Lan — Loạt 22 tỉnh thành: huyện láng giềng Tân Bắc phía đông nam, Hầm Tuyết Sơn năm 2006 thông tuyến trước Nghi Lan Tân Bắc Song Tây, Cung Liêu, Phúc Lăng nối thành một dải bờ biển Bắc
  • Tỉnh Tân Trúc — Loạt 22 tỉnh thành: 1875 Trần Bảo Chân thiết lập Huyện Đạm Thủy gồm toàn bộ Tân Bắc khu vực hôm nay, từ 1876 trở đi Huyện Tân Trúc Huyện Đạm Thủy song song thiết lập, cấu thành bộ máy hành chính Bắc bộ thanh Nhật
  • Trung học Đạm Giang — 1882 Học Đường Ô-xơ-phó Mã Khải tiếp nối, 1914 năm đổi tên Trung học Đạm Giang, là trường trung học kiểu Tây phương sớm nhất miền bắc Đài Loan
  • Chiến tranh Pháp-Thanh — Năm 1884 Chiến dịch Hũ Vĩ trực tiếp xúc tác xây dựng Tỉnh Đài Loan, Lưu Minh Truyền trở thành Tổng độc tài Đài Loan đầu tiên, Lâm Duy Nguyên quyên tặng hai vạn lượng trở thành thương nhân đỏ
  • Sự kiện 228 — Năm 1947 Sự kiện 228 Khu vực Tam Tích Anh Ca, Bản Kiều, Tam Trọng xảy ra xung đột, sâu vào chấn thương sau chiến tranh mỗi quận Tân Bắc
  • Lịch sử Thương mại Biển Đài Loan — 1858 Mở cửa Đạm Thủy, 1869 Trà ô-long Đô Đức tới New York, 1864-1894 Đạm Thủy chiếm 57% thương mại toàn Đài Loan lịch sử xuất khẩu Bắc bộ hoàn chỉnh
  • Lịch sử Đường sắt Đài Loan — 1921 tuyến vận chuyển than Công ty Khai thác Đài Yang, 1929 Tổng độc tài mua lại đổi tên Tuyến Bình Tất bối cảnh tuyến đường sắt
  • Công nghệ truyền thống Đài Loan và Tài sản Văn hóa Vô hình — 1804 Gốm sứ Anh Ca, 1886-1920 Tam Giác Dâng Nhuộm Xanh, 1947 Lý Mai Thụ(李梅樹) Điện thờ Tổ Sư Tam Tích chạm khắc chuỗi công nghệ
  • Tôn giáo Đài Loan và Văn hóa Đền Thờ — Điện thờ Tổ Sư Tam Tích, Vườn Lâm Gia Bản Kiều liên quan tín ngưỡng văn hóa đọc thêm
  • Bản đồ Văn hóa 16 Dân tộc Bản địa Đài Loan — Bộ lạc Đảo Xanh Thái Nghi Đức La Nam Chiêu Lai, Di tích Mười Ba Hàng Khải Đạt Cách Lâm hai trục lịch sử dân tộc thiểu số

Nguồn gốc Hình ảnh

Bài viết sử dụng 5 hình ảnh CC điều khoản Wikimedia Commons (hot-link từ máy chủ tải lên Wikimedia):

  • Hình chủ (frontmatter) + Cảnh §Đạm Thủy Cửa sông: 2017 Fort San Domingo — Người đóng góp Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. 1628 Thành phố Thánh Đô Minh Tây Ban Nha, 1644 Pháo đài An Đặc Ni Hà Lan, 1867 Thuê Anh, 1980 hoàn trả Trung Hoa Dân Quốc 400 năm kiến trúc xếp chồng.
  • Cảnh §Vườn Lâm Gia Bản Kiều: Lin Family Mansion and Garden — Người đóng góp Wikimedia Commons, CC BY-SA. 1853 hoàn thành, 1893 Vườn Lâm Gia toàn bộ hoàn thành, 1986 tu sửa hoàn thành trường hợp tư bản chủ nghĩa bản địa Đài Loan đầu tiên.
  • Cảnh §1890 Cửu Phần Cầm Quả Thạch: Jiufen Old Street 2017 — Người đóng góp Wikimedia Commons, CC BY-SA. 1890 phát hiện mỏ vàng, 1987 Công ty Đài Vàng đóng cửa, 1989 Thành phố Tổn Thương quay phim bãi khai thác mỏ chuyển du lịch.
  • Cảnh §1929 Tuyến Bình Tất: Shifen Old Street — Người đóng góp Wikimedia Commons, CC BY-SA. 1921 Tuyến vận chuyển than Công ty Khai thác Đài Yang, 1929 Tổng độc tài mua lại Tuyến Bình Tất quốc doanh kèm khách.
  • Cảnh §Bao quanh Đài Bắc: Bản đồ Phân chia Hành chính Thành phố Tân Bắc — Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0. 29 quận bao quanh 12 quận thành phố Đài Bắc toàn thành phố trực thuộc lớn nhất cấu trúc vùng quanh.

Điều khoản Giấy phép: CC BY-SA 3.0 / CC BY-SA 4.0.

⚠️ Một số liên kết hình ảnh là trang phân loại Wikimedia Commons hoặc tên tập tin suy đoán, phiên bản polish sau sẽ thay thế bằng tập tin chất lượng cao cụ thể.

Tài liệu Tham khảo

  1. Thành phố Hùng Sơn đỏ — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Thành phố Hùng Sơn đỏ. Nguyên văn chính xác: «1628 năm tới 1629, người Tây Ban Nha bắt đầu tại địa điểm này bằng đất sét, cánh ghi nông, tre và gỗ làm nguyên liệu, xây dựng thành làm điểm cứ, đặt tên Thành phố Thánh Đô Minh» + «Ngày 7 tháng 5 năm 1643, viên đá đầu tiên được đặt nền móng chính thức, bắt đầu xây dựng ⋯⋯ cho đến năm 1646 mới toàn bộ hoàn thành» + «Năm 1724 khi đó, Vương Khiêu quan Đặc Cảnh Báo Cắp Đạm Thủy Phủ Đài Bắc bắt đầu tu sửa Thành phố Hùng Sơn đỏ» + «Anh quốc thành lập lãnh sự quán ở Đạm Thủy năm 1861, và ký kết 'Hợp đồng vĩnh cửu Thành phố Hùng Sơn đỏ' với nhà Thanh năm 1867» + «Ngày 30 tháng 6 năm 1980, Thành phố Hùng Sơn đỏ chính thức Anh bàn giao trả lại chính phủ Trung Hoa Dân Quốc» + năm 1972 giao Úc quản lý tạm thời sau giao Mỹ quản lý, năm 1983 di tích cấp một, ngày 25 tháng 12 năm 1984 mở công chúng xem lịch sử 400 năm sáu chế độ cai trị hoàn chỉnh.
  2. 1858 Kỷ niệm Ngày Mở Cửa Đài Loan — Tập trung Thanh Đài Loan — Bài chuyên đề Kỷ niệm Mở Cửa Đài Loan 1858 tháng 6 ngày 26 Tập trung Thanh Đài Loan. Nguyên văn chính xác: «Năm 1858 tháng 6, Nước Thanh ký kết Hiệp ước Thiên Tân với các cường quốc, ba cảng Đài Loan (Đài Loan (An Bình), Đạm Thủy, Đả Cẩu (Cao Hùng)) do đó mở cửa với các cường quốc cho phép du lịch, truyền giáo» + Nga ngày 6/13, Mỹ ngày 6/18, Anh quốc ngày 6/26, Pháp ngày 6/27 bốn lần ký kết hiệp ước thời gian hoàn chỉnh.
  3. Thương mại Lá trà Đạm Thủy Phòng Bảo Thuận — Tích hợp đa nguồn — Phòng Wiki Đạm Thủy (Viện Văn học Đại học Đạm Giang) Điều khoản Phố cũ Đạm Thủy. 1864 Đô Đức (John Dodd) Đạm Thủy thành lập Phòng Bảo Thuận, đưa vào cây trà từ Phúc Kiến An Tây cho nông dân miền bắc vay, năm 1869 vận chuyển trà ô-long Đài Loan 21.000 kg bằng hai chiếc thuyền buồm trực tiếp tới New York ghi chép hoàn chỉnh.
  4. Phố cũ Đạm Thủy — Phòng Wiki Đạm Thủy — Điều khoản Phòng Wiki Đạm Thủy Phố cũ Đạm Thủy. Nguyên văn chính xác: «1864 năm tới 1894, tổng giá trị thương mại xuất khẩu Đạm Thủy chiếm 57% toàn Đài Loan, hàng xuất khẩu chủ yếu là trà, đường, cam phòng» + «Năm Minh Trị 43 (1910), cảng Đạm Thủy địa vị từ từ bị cảng Cơ Long thay thế» ghi chép sự thay đổi cảng.
  5. Kinh tế Thương phẩm Thì Kỳ Sáng Ngựa — Tạp chí Thiên Hạ — Bài chuyên đề Hồi tưởng Lịch sử Kinh tế Đài Loan Tạp chí Thiên Hạ, nguyên văn chính xác: «Đến năm 1878, trà đã chiếm 90% tổng giá trị xuất khẩu miền bắc» thống kê độc quyền trà cuối thanh bắc bộ.
  6. Học Đường Ô-xơ-phó — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Học Đường Ô-xơ-phó (Lý Học Đường Đại Thư Viện). Nguyên văn chính xác: «Ngày 9 tháng 3 năm 1872 nhà truyền giáo Hội Thánh Trưởng Lão Công Giáo Canada Mã Khải đặt chân vào Đạm Thủy» + «Năm Quang Tự 8 (1882) ngày 26 tháng 7 hoàn thành, được đặt tên 'Lý Học Đường Đại Thư Viện'» + năm 1880 Mã Khải trở lại Canada gây quỹ nhận được sự giúp đỡ tiền đô từ cư dân tỉnh Ontario Quận Ô-xơ-phó 6.215 đô Canada, thay tên Anh gọi Ô-xơ-phó Viện Cao đẳng để cảm ơn Quận Ô-xơ-phó tặng, năm 1965 thành lập trường cao đẳng Quản lý Thương mại Đạm Thủy vị trí gốc, năm 1999 nâng cấp Đại học Chân Lý lịch sử phát triển hoàn chỉnh.
  7. Chiến dịch Hũ Vĩ — Bảo tàng Di tích Cũ Đạm Thủy Thành phố Tân Bắc — Ghi chép Lịch sử Chiến dịch Hũ Vĩ Chính thức Bảo tàng Di tích Cũ Đạm Thủy Thành phố Tân Bắc. Nguyên văn chính xác: «Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Pháp ghi chép tổn thất quân Pháp: 6 người chết, 11 người mất tích, 49 người bị thương» + 1884/10/01 Tướng Pháp Cô Bách dẫn bốn chiếc chiến hạm tấn công Hũ Vĩ Cửa sông Đạm Thủy, Thống chế Tôn Khai Hoa lợi dụng viên đá chìm tàu cản bít cảng bố trí thủy lôi, Triều Thanh sau chiến tranh tuyên bố xây dựng tỉnh Đài Loan lệnh Lưu Minh Truyền kiêm chức Tổng độc tài Đài Loan đầu tiên, năm 1886 kỹ sư quân sự người Đức Max E. Hecht lập kế hoạch hoàn thành Pháo đài Hũ Vĩ ghi chữ cánh cổng «Khoá Môn Bắc» nhìn thấy cho đến hôm nay lịch sử chiến dịch hoàn chỉnh.
  8. Vườn Lâm Bản Nguyên — Trang Chính thức Lâm Gia Vườn — Trang web Chính thức Vườn Lâm Bản Nguyên Bản Kiều. Nguyên văn chính xác: «Lâm Bình Hậu lấy kinh doanh vận chuyển gạo làm sự nghiệp, lại gặp sự kiện Lâm Sảng Văn, giá gạo tăng cao, Lâm Bình Hậu vừa là thương gia gạo, kinh doanh vận chuyển gạo thu được lợi nhuận cực phong phú» + «Đạo Quang 27 năm (tức năm Tây phương 1847), gia tộc Lâm vì tiện lợi thu tiền thuê nông, xây dựng Bật Ích Quán ở Phương Kiều (tức Bản Kiều hôm nay), đây là lần đầu gia tộc Lâm xây dựng nhà cửa ở khu vực Bản Kiều» + «Gia tộc Lâm năm Hàm Phong năm nhất (tức năm Tây phương 1851) ở Phương Kiều Bật Ích Quán cạnh xây dựng ba gian nhà lầu, đến Hàm Phong năm 3 hoàn thành sau toàn gia di cư vào» + «Năm 1982 cuối cùng, tu sửa vườn bắt đầu, trải qua 4 năm hoàn thành tu sửa. Tổng kinh phí tu sửa 165,43 triệu đô Đài Loan» + 1857-1861 Lâm Quốc Phương Trương Tuyền Xung đột, 1888 Lâm Duy Nguyên đầu tư vườn, 1893 toàn bộ hoàn thành, 1949 sau nạn nhân chiếm cứ gây hư hại, 1985 di tích quốc gia, diện tích toàn bộ 6.054 tấc, vườn hoàng gia còn lại hoàn chỉnh nhất Đài Loan lịch sử phát triển ba thế hệ 133 năm hoàn chỉnh.
  9. Lâm Duy Nguyên Thương nhân đỏ — Quỹ Nghiên cứu Chính sách Quốc gia — Bài chuyên đề Tư bản chủ nghĩa Bản địa Đài Loan Quỹ Nghiên cứu Chính sách Quốc gia. Nguyên văn chính xác: «Năm Quang Tự 10 (1884), Lâm Duy Nguyên quyên tặng tiền 20 vạn lượng bạc, đồng thời hỗ trợ Lưu Minh Truyền xây dựng quốc phòng Đài Loan và đảm nhận vị trí phó bộ trưởng hành pháp Đài Loan, một bước trở thành 'thương nhân đỏ'» của thanh bộ tư bản đỏ hoá khoảnh khắc chính yếu.
  10. Thống kê Dân số Thành phố Tân Bắc — Cục Dân chính Thành phố Tân Bắc — Thống kê Dân số Cục Dân chính Thành phố Tân Bắc. Tháng 4 năm 2026 dân số 4.041.149 người (vẫn là thành phố trực thuộc lớn nhất toàn quốc, tháng 5 năm 2019 vượt 4 triệu mốc), phân chia hành chính 29 quận (năm 2010 từ huyện tỉnh 10 thành phố huyện 21 nông thôn nâng cấp), dân số quận Bản Kiều khoảng 54,9 vạn (cuối năm 2025, quận dân số lớn nhất toàn quốc), Tân Trang/Trung Hòa/Tam Trọng/Tân Điếm mỗi 30-40 vạn+ năm quận lớn nhất, Chiêu Lai/Bình Tất/Song Tây/Cung Liêu v.v. núi 4.400-11.000 người cấu trúc chênh lệch 100 lần bên trong.
  11. Cầm Quả Thạch — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Cầm Quả Thạch. 1889 Công nhân phát hiện vàng cát sông Cơ Long, 1890-1893 đám người đào vàng theo dòng sông lên, 1893 phát hiện mạch vàng tiểu Cầm Quả khu vực Cửu Phần, 1894 phát hiện mỏ vàng nội địa Cầm Quả Thạch, năm 1896 tháng 10 ngày 26 được phê duyệt cấp quyền mỏ cho Tổ Trường Trung Trường Binh Hề lịch sử phát hiện hoàn chỉnh.
  12. Lịch sử Khai thác Mỏ Cầm Quả Thạch — Nhận xét Bình luận Chính yếu — Bài báo sâu lịch sử Khai thác Mỏ Cầm Quả Thạch Nhận xét Bình luận Chính yếu. Nguyên văn chính xác: «Năm 1938 thậm chí đạt đỉnh cao gần bảy vạn hai lượng vàng, làm cho Cầm Quả Thạch thời đó được ca tụng là 'Mỏ kim loại quý đầu tiên Châu Á', từng tập trung tám vạn người tại đây hoàn thành giấc mơ đào vàng» ghi chép Kỳ Nhật Trị Cầm Quả Thạch thịnh kỳ tám vạn người tập trung.
  13. Công ty Đài Vàng Đóng cửa — Điều khoản Wikipedia Cầm Quả Thạch — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Cầm Quả Thạch mục kết thúc khai thác mỏ. Nguyên văn chính xác: «Công ty Đài Vàng cuối cùng năm 1987 tuyên bố đóng cửa, khu vực mỏ Cầm Quả Thạch được Công ty Đường Duệ Ngành Nước tiếp quản». Năm 1985 sắp xếp lại + 1987 hoàn toàn đóng cửa hai giai đoạn thời gian chấm dứt mỏ — thường bị đơn giản hoá thành «1985 đóng cửa» lỗi ở đây sửa.
  14. Thành phố Tổn Thương Chuyển du lịch Cửu Phần — Thành phố Học — Bài chuyên đề Phim Thành phố Tổn Thương Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền Chuyển du lịch Cửu Phần Tạp chí Viễn Kiến Thành phố Học. Nguyên văn chính xác: «Ngày 25 tháng 11 năm 1988, tại Tám Giác Đình phía trước ở Cơ Long Cầm Quả Thạch khởi quay» + «làm cho địa điểm quay phim Cửu Phần, Cầm Quả Thạch trở thành điểm nóng du lịch». 1989 Lễ hội Điện ảnh Venise Giải Sư Tử Vàng, 1990 thập niên Cửu Phần Nhà trà Nghệ thuật Hưng Khởi, bãi núi xuất hiện lượng lớn xe khách du lịch, Thị trấn Khai thác Mỏ Văn hóa Chuyển du lịch Ký hiệu ghi chép.
  15. Công viên Bảo tàng Vàng — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Công viên Bảo tàng Vàng (Bảo tàng Vàng Thành phố Tân Bắc). Nguyên văn chính xác: «Năm 2004, dưới sự lãnh đạo Phủ Tỉnh Đài Loan ⋯⋯ Công viên Bảo tàng Vàng chính thức khai mạc». Bảo tàng công viên đầu tiên Đài Loan dựa trên khái niệm bảo tàng sinh thái, tích hợp Tòa biệt thự Hoàng Thái kỳ Nhật Trị Năm Kho Núi Chính Ký túc xá Công nhân, từ Công ty Đài Vàng 1987 đóng cửa tới 2004 khai mạc bảo tàng 17 năm chuyển Ghi chép.
  16. Tuyến Bình Tất — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Tuyến Bình Tất. Nguyên văn chính xác: «Tuyến Bình Tất năm 1921 (Đại Chính 10 năm) tháng 7 toàn tuyến hoàn thành, ban đầu là tuyến chuyên vận than của Công ty Khai thác Đài Yang» + «Năm 1929 (Thiên Hòa 4 năm) ngày 1 tháng 10 được Bộ Đường sắt Tổng độc tài Đài Loan mua lại đường sắt Thạch Đáy bằng 1,5 triệu yên chuyển thành quốc doanh, đặt tên 'Tuyến Bình Tất', sau khi sửa chữa bắt đầu kèm theo chuyên chở khách». 1908 Tổ Tô Thiên Điền khẩn hoạn xác nhận Than Thạch Đáy, Công ty Khai thác Đài Yang (gia tộc Nhan Vân Niên kinh doanh) tự xây 1921 tuyến đường sắt vận than lịch sử đầy đủ.
  17. Đèn trời Bình Tất — Bộ Nội vụ Bản đồ Văn hóa Tôn giáo Đài Loan — Điều khoản Bản đồ Văn hóa Tôn giáo Đài Loan Bộ Nội vụ Đèn trời Bình Tất. Nguyên văn chính xác: «Thời Thanh Đạo Quang, người dân khu vực trước tiên từ Huế An An Tây Phúc Kiến theo nhiều lần chuyển tới khu vực Mười Phần Liêu, lúc đó vì những kẻ cướp gây náo loạn, quấy rầy thị trấn, người dân chỉ được chạy trốn vào núi, chờ cho đến khi nguy hiểm qua đi, mới bởi những thanh niên lưu lại làng dùng đèn trời làm tín hiệu, thông báo cho những người chạy trốn gia đình trở lại» + 1990 thập niên khôi phục phát hành nghi lễ đèn trời, năm 2012 ban hành «Quy định Quản lý Thả Đèn trời Thành phố Tân Bắc» dân tục Nghi lễ Hiện đại hoá ghi chép.
  18. Điện thờ Tổ Sư Trường Phúc Tam Tích — Tích hợp đa nguồn + Bộ Văn hóa Cục Quản lý Di sản Văn hóa — Dữ liệu Bộ Văn hóa Cục Quản lý Di sản Văn hóa Điện thờ Tổ Sư Trường Phúc Tam Tích. Lời nói chính thức phổ biến «Năm Càn Long 34 (1769)» xây dựng, Điện thờ trải qua ba lần xây dựng lại: Năm 1833 Đạo Quang Trận động đất lớn lần xây dựng đầu tiên, 1899 Kỳ Nhật Trị đầu tiên điểm tập kết kháng cự bị đốt cháy lần xây dựng thứ hai, năm 1947 lần xây dựng thứ ba do Họa sĩ Lý Mai Thụ(李梅樹) (từng làm Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân Tam Tích) chủ trì, trực tiếp quy hoạch xây dựng lại, dùng chuyên môn nghệ thuật mở ra công trình trang trí Điện thờ Tổ Sư khiến phục cảm, cho đó danh xưng «Cung Điện Nghệ Thuật Phương Đông», cho tới 1983 Lý Mai Thụ(李梅樹) mất vẫn chưa hoàn thành cho đến hôm nay vẫn tiếp tục tu sửa ghi chép kiến trúc nghệ thuật công trình hoàn chỉnh. ⚠️ Stage 0 Ghi chép «1738», tài liệu khác có «1796» nói, Bài viết chọn «1769 (Càn Long 34)» phiên bản phổ biến chính thức mà Bộ Văn hóa Cục Quản lý Di sản Văn hóa dùng.
  19. Nguồn gốc Ngành Gốm sứ Anh Ca Bảo tàng Gốm sứ — Tài liệu Chính tọc Anh Ca Tân Trang Cộng hoà Nhân dân + Bảo tàng Gốm sứ Anh Ca Thành phố Tân Bắc — Tài liệu Tài liệu Chính tọc Anh Ca Bảo tàng Gốm sứ Anh Ca Thành phố Tân Bắc. Nguyên văn chính xác: «Nền tảng Ngành Gốm sứ Anh Ca bắt đầu từ năm Gia Khánh 9 (1804), do người Quân Châu Ngô An lần đầu tiên mở lò nung ở khu vực Đại Hồ. Ngô An vượt biển đến Đài Loan từ Quân Châu Phúc Kiến, lúc đầu ở thị trấn Thỏ Tử Khu vực Qui Sơn Đào Viên (Quận Gui Sơn hôm nay), vì Xung đột Trương Tuyền, chuyển đi nhiều nơi, sau cùng định cư Anh Ca Nhọn Sơn Phủ Phố» + «Từ năm 1917 trở đi dần dần thành lập 'Nhọn Sơn Gốm sứ Tổ hợp' và 'Nhọn Sơn Gốm sứ Sản xuất Bán hàng Tổ hợp' v.v., phá vỡ tình trạng độc quyền gia tộc Ngô. Năm 1939 đưa vào lò Bốn Phương kiểu Nhật Bản, làm tăng đáng kể hiệu suất chất lượng gốm sứ Anh Ca» + Ngày 26 tháng 11 năm 2000 Bảo tàng Gốm sứ Anh Ca Thành phố Tân Bắc chính thức khai mạc là bảo tàng đầu tiên toàn Đài Loan lấy gốm sứ làm chủ đề lịch sử 222 năm gốm sứ hoàn chỉnh.
  20. Phố cũ Tam Tích — Bảo tàng Triển lãm Văn vật Hải Sơn + Cụm Quận Tam Tích Cộng hoà Nhân dân + Cụm Quận Tân Trang Cộng hoà Nhân dân — Điều khoản Phố cũ Tam Tích Bảo tàng Triển lãm Văn vật Hải Sơn Đại học Bắc Bộ Quốc Lập Đài Loan. Nguyên văn chính xác: «1886 năm tới 1920, được gọi là thời kỳ vàng son Tam Giác Dâng nhuộm, toàn bộ phố Tam Giác Dâng ngoài Lâm Mao Hưng tiệm nhuộm, còn có Vĩnh Thái, Kim Liên Xuân, Lưu Thành Phương, Lý Nghĩa Phát, Chu Thắng Phát, Lâm Vinh Tường, Lâm Nguyên Cát v.v. cộng 20 tiệm nhuộm, thành nên khu vực nhuộm xanh quan trọng nhất miền bắc Đài Loan». Ba ngành công nghiệp Tam Tích (Nhuộm xanh Cây Mã tiêu Xanh, Cam phòng Tam Tích Sơn Lâm, Trà 1868 Anh Đô Đức Phát triển kỳ Nhật Trị Công ty Tam Tuyền Hợp danh Thành lập Nhà máy Trà), kiến trúc phố cũ Tây Phương Năm 1911 Lưu tồn Gạch Vòm Liên tục Kiến trúc Cổ xưa ghi chép.
  21. Bảo tàng Mười Ba Hàng — Bộ Giao thông Vận tải Cơ quan Du lịch Toàn quốc — Dữ liệu Chính thức Bảo tàng Mười Ba Hàng Bộ Giao thông Vận tải Cơ quan Du lịch Toàn quốc. Nguyên văn chính xác: «Di tích Mười Ba Hàng nằm ở phía nam giao điểm Cửa sông Đạm Thủy Quận Ba Lý Thành phố Tân Bắc, là di tích khảo cổ quan trọng Miền Bắc Đài Loan, chủ nhân sinh tồn tại khoảng 2.000 năm tới 400 năm trước, là cư dân tiền sử Đài Loan xác định sở hữu Kỹ thuật Luyện Sắt, rất có khả năng là tổ tiên Dân tộc Khải Đạt Cách Lâm bản địa Đài Loan» + Dân tộc Khải Đạt Cách Lâm Địa danh Di sản «Hôm nay rất nhiều Địa danh Đài Bắc là Phiên âm Ngôn ngữ Khải Đạt Cách Lâm, ví dụ: Đại Long Phong, Bắc Đầu, Phán Lý An, Ba Lý, Bàng Toa, Gia Chấp v.v.», 1998 Phòng Trưng bày Đổi tên Bảo tàng Mười Ba Hàng, 2003 chính thức hoàn thành khai mạc ghi chép Di tích Khảo cổ hoàn chỉnh.
  22. Chiêu Lai Bốn Bộ lạc + Lịch sử Di cư Dân tộc Thái Nghi — Eco tour Đài Loan + Bảo tàng Dân tộc Thái Nghi Chiêu Lai — Dữ liệu Chính thức Bảo tàng Dân tộc Thái Nghi Chiêu Lai. Nguyên văn chính xác: «Bộ lạc Phúc Sơn phát âm theo tiếng Thái Nghi gọi là 'Đức La Nam', là bộ lạc sâu nhất của Chiêu Lai, cũng là nơi Dân tộc Thái Nghi từ Đào Viên Phục Hưng Quận Thượng Ba Lăng vượt qua núi tới Chiêu Lai điểm cơ sở đầu tiên» + «Năm 1903 Kỹ sư Thâm Phiêu Trường Đơn Dã Anh Thanh phát hiện được ở Thung lũng Nam Thế Tuyến, thiết lập Phòng tắm Công nhân Quản lý Thổ dân Chiêu Lai». Bốn Bộ lạc Chiêu Lai (Chiêu Lai Ulay, Trung Trị Tampya, Tín Hiền Rahaw «Rừng Cây Dày Đặc», Phúc Sơn Tranan «Đức La Nam»), Dân tộc Thái Nghi từ Làng Phát Tường Nhân Ái Quận Nam Đầu Pinsbukan một lộng Bắc Dân tộc Thái Nghi Di cư Hệ thống ghi chép hoàn chỉnh.
  23. Quận Vĩnh Hòa — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Quận Vĩnh Hòa. Nguyên văn chính xác: «Năm 1956, dân số Huyện Trung Hòa tăng lên 44.325 người, thúc đẩy Tách Huyện Thành Thị Xã tranh luận phát sinh» + «Ngày 1 tháng 4 năm 1958, Huyện Trung Hòa tách ra bộ lạc toàn bộ sáu làng Qui Lung Lâm Tây Châu và lần lượt một làng mỗi Tích Thi, Tủu Lang khu vực, chính thức Thành lập Thị xã. Dự định ban đầu Thị xã tên là Trung Hưng Thị xã, nhưng vì lo có tên trùng Trung Hưng Tân Thôn, nên định tên là Vĩnh Hòa Thị xã». 1949 Chính phủ Quốc Dân Đảng Rut Đài Loan Thành phố Đài Bắc Phòng chống Hàng không Sơ tán Kế hoạch, 1958 Trung Hòa Vĩnh Hòa Chính thức Tách Thành, 1960 tháng 10 Ranh giới Chính thức Xác định lịch sử Tách Thành hoàn chỉnh.
  24. Phố Hàn Quốc Vĩnh Hòa — Câu chuyện StoryStudio — Báo cáo Sâu Phố Hàn Quốc Vĩnh Hòa Câu chuyện StoryStudio. Nguyên văn chính xác: «Rất nhiều người Tị nạn từ Sơn Đông Hàn Quốc chuyển đến Đài Loan, định cư ở Vĩnh Hòa. 1980 năm tới 1990 là thời kỳ Đặc biệt thịnh hành Người Di cư Hàn»». Phố Trung Hưng 1970 thập niên sau Dần dần Thay đổi Bán hàng hóa Hàn Quốc Ẩm thực Hàn Quốc Trà nhân sâm Thương mại Hình thành Lịch sử.
  25. Tam Trọng Thị trấn Đen + Phát triển Công nghiệp Tân Trang — Nụ cười Đài Loan + Cụm Quận Tam Trọng + Cụm Quận Tân Trang — Báo cáo Sâu Thị trấn Đen Tam Trọng Nụ cười Đài Loan + Dữ liệu Chính thức Cụm Quận Tam Trọng/Cụm Quận Tân Trang. Tam Trọng Nguyên văn chính xác: «Dân Quốc 6, 7 thập niên (1960, 1970) chính là thời kỳ Mười Đại Công trình Kinh tế Cất cánh, Tam Trọng cũng toàn bộ Phát động, Nhà máy Nhỏ Ngự ở Giữa Làng Xóm, Ba bước Một gia, Năm bước Một nhà, Hầu hết Từ Vít, Khuôn Đúc, Điểm hàn, Mạ Điện, Tiện, Phun Nhựa v.v. Nửa thành phẩm Công nghiệp Linh kiện, Quy mô Lớn Output, Nâng đỡ Toàn tỉnh Công nghiệp Máy móc» + «Tam Trọng Nằm ở Đầu Cuối Cao tốc, Giao thông Nam Bắc Tiện lợi, Lại Một dòng Nước Cách biệt Với Thành phố Đài Bắc Phồn vinh, Hai Điều kiện Ưu tú này, Làm cho Tam Trọng Trở thành Thành phố Di cư Lớn nhất Toàn tỉnh». Tân Trang Nguyên văn chính xác: «Thành lập Khu công nghiệp Đầu Trước, Khu công nghiệp Tây Thịnh, là Điểm chuyển Mấu chốt Tân Trang Từ Nông thôn Nước ngoài Tiến vào Thành phố Công nghiệp ⋯⋯ Ngành Công nghiệp Chủ yếu Chiếm Tỷ lệ Hóa chất, Dệt may, Máy móc, Kim loại, Những Ngành này Thu hút Lượng lớn Dân số Công nghiệp, Người nước ngoài Liên tiếp Di cư Nhân khẩu Tăng nhanh».
  26. Đầm Hai Kỳ Hồ — Wikipedia + Cục Quản lý Thuỷ Lợi Bộ Kinh tế — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Đầm Hai Kỳ Hồ + Dữ liệu Chính thức Cục Quản lý Thuỷ Lợi Bộ Kinh tế. 1979 Chấp nhận Hộ tư Công lệnh Kế hoạch Phòng chống Lũ lần 1, 1982 Bắt đầu Triển khai, 1984 Hoàn thành, Chủ yếu Nhằm Phòng chống Lũ lụt Tam Trọng, Tân Trang, Ngũ Cổ, Lỗ Châu v.v. khu vực, Đồng thời Tiếp nhận Những Hộ nạn nhân Di cư Nhà máy Hợp pháp Xung quanh Kỳ hồ Sử dụng Ghi chép Công trình hoàn chỉnh.
  27. Lịch sử Nâng cấp Tỉnh Đài Bắc Thành phố Trực thuộc — Tích hợp Đa nguồn Tự do Thời báo — Nâng cấp Tỉnh Đài Bắc Lịch sử Nền tảng Thành phố Trực thuộc Tích hợp Đa nguồn. 1979 Năm Bắt đầu Dân số Đạt Ngưỡng Thành phố Trực thuộc Nhiều lần Tranh thủ Cải cách Đều bị Từ chối, 2007/05 Viện Lập pháp Ba lần Đọc Phê duyệt Sửa đổi «Luật Chế độ Địa phương» Dân số Hơn Hai triệu Người Tỉnh Đài Bắc Có thể Dùng Quy định Thành phố Trực thuộc, 2009/06/23 Bộ Nội vụ Thẩm định Phê duyệt Lịch sử Tranh thủ Nâng cấp Thời gian Hoàn chỉnh.
  28. 2010 Nâng cấp Tỉnh Thành phố Trực thuộc Trung Hoa Dân Quốc — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung 2010 Năm năm Thành phố Cải cách. Nguyên văn chính xác: «Ngày 25 tháng 12 năm 2010, Tỉnh Đài Bắc Nâng cấp Thành phố Trực thuộc 'Tân Bắc Thành phố', Phủ Tỉnh Đài Bắc Đổi tên Thành 'Phủ Thành phố Tân Bắc', Tên tiếng Anh là 'New Taipei City', Trở thành Thành phố Trực thuộc Dân số Lớn nhất Trung Hoa Dân Quốc». Với Đài Trung Thành phố, Đài Nam Thành phố, Cao Hùng Thành phố Cùng lúc Cải cách (Năm Thành phố Cải cách), Tân Bắc Năm Thành phố Trực thuộc Duy nhất Tên «Mới sinh», Cũng Trường hợp Duy nhất Tỉnh Nâng cấp Thành phố Trực thuộc (Không phải Hợp nhất Tỉnh Thành phố) Ghi chép Cải cách Hoàn chỉnh.
  29. Thống kê Thời gian đi lại Xuyên Tỉnh Tân Bắc — Cơ quan Chủ tịch Hộp Chính Bộ Phận Tích hợp Đa nguồn — Thống kê Dân số Cư trú Xuyên tỉnh Thời gian đi lại Cơ quan Chủ tịch Hộp Chính. Dân số Tân Bắc Xuyên Tỉnh Thời gian đi lại Đến Đài Bắc Đi làm Khoảng 390.000 người (Chiếm Dân số Lao động Tân Bắc Khoảng 20%), Là Toàn quốc Xuyên Tỉnh Thời gian đi lại Lượng Lớn nhất Thành phố Cặp, Tân Bắc 29 Quận Trung 16 Quận Có Tuyến métro, Chiêu Lai/Bình Tất/Cung Liêu/Song Tây/Tọa Lâm/Thạch Điếu/Sâu Phó/Tam Chỉ/Thạch Môn/Kim Sơn/Vạn Lý/Ruỳ Phương/Bình Tất 13 Quận Hoàn toàn Không Tuyến métro Cấu trúc Giao thông Đô thị Vùng quanh Ghi chép.
  30. Phát triển Tuyến Métro Tân Bắc — Cục Giao thông Thành phố Tân Bắc — Lịch sử Phát triển Tuyến Métro Cục Giao thông Thành phố Tân Bắc. 1996 Tuyến Đạm Thủy Thông tuyến (Ga Đài Bắc Tới Đạm Thủy), 1997 Tuyến Trung Hòa (Nam Thế Giác Tới Đài Bắc), 1998 Tuyến Tân Điếm (Tân Điếm Tới Đài Bắc), 2017 Tuyến Cơ Trường Thông tuyến (A1 Tới A21), 2018/12/23 Tuyến Đạm Hải Nhẹ Lục Sơn Thông tuyến, 2020/01/31 Tuyến Hình Trạng Chính thức Vận hành (Chiều dài Toàn bộ 15,4 km, 14 Ga, Tuyến Bước một Độ 1 Bao gồm Tân Trang, Bản Kiều, Trung Hòa, Tân Điếm), 2020/11/15 Tuyến Đạm Hải Nhẹ Xanh Hải Bước một Thông tuyến Giao thông Công cộng Phát triển Thời gian Trục Hoàn chỉnh.
  31. Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế Cung Liêu — Wikipedia — Điều khoản Wikipedia tiếng Trung Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế Cung Liêu. Nguyên văn chính xác: «Lễ hội Âm nhạc Biển Quốc tế đầu tiên năm 2000 tháng 7 ngày 15 tại Bãi tắm biển Phúc Lăng Huyện Cung Liêu Tỉnh Đài Bắc tổ chức, Kéo dài Chỉ 1 ngày, Cộng tính Khoảng 8.000 Người lần Tham dự» + «Lễ hội Âm nhạc Biển Ban đầu Do Phủ Tỉnh Đài Bắc Công ty Âm nhạc Độc lập Thủ tướng Góc Hầu Phối hợp Phát động, Nhân vật Xúc tác Hoạt động Chính Là Tổng giám đốc Âm nhạc Góc Hầu Trương Bốn Mươi Ba Và Thư phòng Báo chí Phủ Tỉnh Đài Bắc Lúc đó Liêu Chí Kiên» + «Hohaiyan (Hỗ Hải Dương) Là Từ Ngôn ngữ Từ Một Trong Các Dân tộc Bản địa Đài Loan Là Dân tộc A Mỹ, Là Từ Ngữ Liên quan Sóng Biển». Stage 0 «1999 Lần đầu» Lỗi Ghi chép Ở đây Sửa Thành «2000 Tháng 7 Ngày 15».
Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
Tân Bắc Tân Bắc thành phố miền bắc Bản Kiều Đạm Thủy Cửu Phần Cầm Quả Thạch Tam Tích Anh Ca Chiêu Lai Bình Tất Cung Liêu đô thị vùng quanh Loạt 22 tỉnh thành
Chia sẻ

Đọc thêm

Có thể bạn cũng muốn đọc

Địa lý

Đài Bắc: Ba thời gian trong một thành phố, Tùng Sơn Tự năm 1738 nhìn thấy 101 năm 2004

Vạn Hóa có một ngôi miếu từ năm 1738. Ba cây số ngoài, năm 2004 ngày mùng 1 tháng 1, tòa nhà Đài Bắc 101 ra đời trên khu đất cũ của kho quân đội Nhật và nhà máy quân công 44 thời hậu chiến. Đi tiếp đến Tả Đạo Đình, thế kỷ 19 Lý Xuân Sinh tàu trà Ô Long đã hỗ trợ toàn bộ thương mại xuất khẩu Bắc Đài Loan. Trong cùng một lưu vực, 1738, 1885, 2004 ba thời gian xếp hàng cạnh nhau. 1875 Trần Bảo Cảnh lập Đài Bắc phủ, 1920 người Nhật gộp ba phố thành Thành phố Đài Bắc, 1947 một gói khói lậu của Lâm Giang Mại kích hoạt sự kiện 228, 1949 chính quyền quốc phủ dẫn 1,2 triệu người vào Đài Bắc, 1967 thăng cấp thành thành phố trực thuộc đầu tiên cả nước, 1990 phong trào Dã Bách Hợp ngồi bảy ngày sáu đêm trước Đài Trung tưởng niệm, 2014 phong trào Hướng Dương chiếm Viện Lập pháp 24 ngày. 12 quận, sống trong những thế kỷ khác nhau.

閱讀全文
Địa lý

Nhìn Đài Loan qua dữ liệu 22 tỉnh thành: khoảng cách mật độ 151 lần, chênh lệch tuổi thọ một thế hệ

Trên cùng một hòn đảo, thành phố đông đúc nhất Đài Bắc có 8.975 người trên mỗi km², trong khi Đài Đông chỉ có 59 người, chênh lệch 151 lần. Tân Bắc có 4,04 triệu dân là nơi đông nhất, trong khi Liên Giang chỉ 1,36 vạn người là nơi ít nhất, chênh lệch 297 lần. Hsinchu Tân Trúc với tỷ lệ cao tuổi 15,08% là nơi trẻ nhất, Chiayi Chiayi với 24,11% là nơi già nhất, chênh lệch gần một thế hệ. Sử dụng dữ liệu chính thức từ Bộ Nội vụ Đài Loan cuối năm 2025, bài viết vẽ một bức chân dung đảo quốc có thể đo đạc và kiểm chứng được: bảy mươi phần trăm dân cư tập trung trên ba mươi phần trăm diện tích đất, tình trạng già hóa không bắt đầu từ các thành phố mà từ phía đông, đảo ngoài khơi và các tỉnh nông nghiệp, mọi tỉnh thành đều ghi nhận con số tử vong vượt quá sinh thêm.

閱讀全文
Địa lý

Tân Trúc: Trúc Tiễn trồng tre năm 1733, nôi của Đài Tích Điện năm 1980

Năm 1733, thời Ung Chính thập nhất năm, Căn Thủy Thính Tư Tây Dân trồng tre gai quanh bốn phía, bao thành một thành quanh tròn dài 1408 mét. Năm 1829, thành gạch đã hoàn thành, Cổng Đông Ngạo Tây còn đứng cạnh hào thành. 247 năm sau, vào 15 tháng 12 năm 1980, Tưởng Kinh Quốc cắt một sợi dây đỏ cho Công viên Khoa học đầu tiên của Đài Loan cách Cổng Ngạo Tây 5 km. Từ 1953 đến 1974, 148 người của Trung đội Dơi Đen bay khỏi thành phố gió này để do thám Trung Quốc đại lục và không bao giờ trở lại. Một thành phố được quản lý bởi tỉnh với 450.000 dân, hỗ trợ tuyến đầu Chiến tranh Lạnh, thành phố Hán người được xây dựng sớm nhất ở miền Bắc, hai trường đại học hàng đầu, và điểm khởi đầu của 90% các chip bán dẫn cao cấp toàn cầu. Biệt danh "thành phố gió" rất có tính văn học, nhưng tất cả các ngành công nghiệp trong thành phố này đều liên quan đến gió.

閱讀全文
Địa lý

Đài Nam: 261 năm là thủ phủ, 400 năm di tích, chip bán dẫn thế kỷ 21, xếp chồng trên cùng một vùng đất

Năm 1624, những người Hà Lan bắt đầu xây thành Zeelandia trên đồi cát ở Đại Viên. Ngày 1 tháng 2 năm 1662, Coyette ký hiệp ước đầu hàng tại thành này, ngày 9 tháng 2 anh ta rời bãi biển với 2.000 người Hà Lan. Năm 1665, Trần Yên Hoa xây Khổng Miếu, trở thành "Toàn Đài Học Vị". Năm 1684, triều đại Thanh thành lập Đài Nam Phủ, từ 1624 đến 1885 liên tục 261 năm, Đài Nam là trung tâm hành chính của Đài Loan. Ngày 13 tháng 3 năm 1947 vào buổi trưa, Thang Đức Chương tại công viên Dân Sinh bị bắn hạ. Ngày 25 tháng 12 năm 2010 hợp nhất hạt và thành phố, 37 quận, 1,86 triệu người. Năm 2023, doanh thu hàng năm của Nam Khoa vượt qua Trúc Khoa. Ba lớp lịch sử xếp chồng trên cùng một vùng đất.

閱讀全文