Đài Loan: Hương vị của Bảo An Miếu, Giọng của Kinh Triều, Trời đất của Ngọn Sơn — Ba thời kỳ tôn giáo của Hà Nội

Từ khoảng 5.300 năm trước khi có Ngọn Sơn vực ươm đất, đến năm 1742 khi người Tong An xây dựng Bảo An Miếu bằng tre, từ năm 1859 khi Trần Vân Ngọn đạt cử nhập học viên “năm bước một xuất, mười bước một cử nhập” đến năm 1925 khi các quan nhà địa phương tổ chức tái xây Kinh Triều Hà Nội bị nhà Nhật phá hủy, từ năm 1944 khi Ngựu Miếu bị máy bay hỗn hợp đây chầm cho đến năm 1973 khi Yang Chou-cheng thiết kế tòa nhà 14 tầng kiến trúc Trung Quốc của Ngọn Sơn Lớn. Ba không gian tôn giáo trên trục 1,5 km từ Dalongdong đến Ngọn Sơn nhưng không phải là phiên bản của sách hướng dẫn du lịch: Bảo An Miếu là tác phẩm đầu tiên của Đài Loan được UNESCO công nhận tài sản văn hóa châu Á năm 1995 do Lêu Văn-chi tự nguyện không nhận hỗ trợ chính phủ, chi 2,6 tỷ đồng để xây dựng lại; Kinh Triều Hà Nội là nền tảng của gia đình Trần Nhiếu-kí và Ngụ Hien-thuong dành 3.000 mét vuông đất để không để cho Đức Trọng bị xa cách; Ngọn Sơn Lớn là tòa nhà có quốc lãnh đầu tiên đón 111 người lãnh đạo quốc gia. Khi đi dạo bằng đôi chân trên con phố Dalongdong thi đấu cử tự do, họ đang chân trên lớp thời gian đặc sắc nhất của Hà Nội.

Dalongdong: Hương vị của Bảo An Miếu, Giọng của Kinh Triều, Trời đất của Ngọn Sơn — Ba thời kỳ tôn giáo của Hà Nội

Tóm tắt 30 giây: Từ ra trạm tàu điện Ngọn Sơn, trong vòng 1,5 km có ba không gian tôn giáo: Bảo An Miếu do người Tong An xây dựng năm 1742, Kinh Triều Hà Nội do các quan nhà địa phương tái xây năm 1925, và Ngọn Sơn Lớn do thiết kế của Yang Chou-cheng năm 1973. Trên một trục đường, ba thời kỳ khác nhau của “đạo đức” xuất hiện cùng nhau. Lịch sử trên con đất này không chỉ dài 300 năm, 5.300 năm trước vực ươm đất Ngọn Sơn đã có người đồng đẦn sinh sống. Năm 1709, sáu gia đình người Tong An như Wang Yuen-ji, Wang Chi-ji, Trần Lan-ji, Trần Thắng-ji, Cao Minh-đệ, và Zeng Hsi-nguên đã mở 44 cửa hàng trên đường. “Tăng trưởng Tông An” của “Tăng Tông” đã biến thành hôm nay Quận Đông. Năm 1859, Trần Vân Ngọn đạt cử nhập học viên, người dân “nhìn triển viên như rồng” thay đổi Tông Đông thành Dalongdong. Năm 1853, người đồng bào đồng bào bị đàn hành tìm tới Bảo An Miếu, sau đó chuyển đến Đại Lỗi Cả. Năm 1907, nhà Nhật phá hủy Kinh Triều gốc của thủ đô Hà Nội và xây dựng trường học học tiếng Trung. Năm 1944, khi máy bay hỗn hợp của Nhật Bản đây chầm tại sân bay Song-han, Ngựu Miếu bị hủy diệt. Sau chiến tranh, tổ chức Tín-lượng hợp tác của Mao Sung-mi-linh nhận lại di tích. Năm 1995, Lêu Văn-chi từ chối hỗ trợ chính phủ, tự nguyện chi 2,6 tỷ đồng để xây dựng lại Bảo An Miếu, năm 2003 nhận giải thưởng di sản thế giới UNESCO khu vực châu Á lần đầu tiên của Đài Loan. Bài viết này muốn nói: Khi đi dạo bằng đôi chân trên con phố Dalongdong thi đấu cử tự do, họ đang chân trên lớp thời gian đặc sắc nhất của Hà Nội.

Dalongdong Bảo An Miếu chụp toàn cảnh kiến trúc trước, ba cầu đỏ vàng với sân chính. 1742 năm người Tong An đưa về Đài Loan linh hồn Bảo Sĩ Đế từ chùa Các Nhân tử ở Bãi Rừng Hồng, 1830 năm chính thức hoàn thành, 1995-2002 Lêu Văn-chi chỉ đạo tự nguyện xây dựng lại được giải thưởng UNESCO khu vực châu Á.
Dalongdong Bảo An Miếu trước. Nhóm ảnh: Tianmu peter qua panoramio, CC BY 3.0 qua Wikimedia.

Seven giờ sáng, sân trước Bảo An Miếu với cử tượng tự do

Từ ra trạm tàu điện Ngọn Sơn, ra cửa số 2, đi thẳng qua đường Kulan, sau 5 phút sẽ đến sân trước Bảo An Miếu.

Bao giờ sáng, sân này thuộc về các cụ, cô. Mười mấy người đàn ông, phụ nữ đông quanh thực hành cử tượng tự do. Gần đó có học sinh tiểu học của Trường Đại Lỗi Cả vội vã qua. Học sinh không biết đến chùa, ánh mắt họ dừng lại trên vách đá trước trường học, vách đá đó xây năm 1933, có cửa vòm và cầu thang đá lát. Nhưng trường học của họ bắt đầu từ năm 1896. Năm đó, nhà Nhật đặt trường học thứ ba phụ thuộc của Bảo An Miếu, trường học và chùa chung sân vườn, đến năm 1933 mới chuyển sang tòa nhà bên kia.

Nói cách khác, học sinh hôm nay chân trên Bảo An Miếu, theo dõi bạn đồng trường 130 năm trước đang ngồi trong Bảo An Miếu đọc bảy âm tiếng Nhật, chân mình đi trên cùng một con đường.

Bên đông khuôn viên Bảo An Miếu có bốn người đang cúng điện. Trong số đó có một cụ già cầm ba chìa hương, tay trợ gậy đợi đến lượt mình. Cô ấy cúng Bảo Sĩ Đế. Đế này là người Tông An, tên thật là Ngụ Bản (âm “Thảo”), sinh năm 979, mất năm 1036, trong đời sống hiếu khách thành thạo kỹ thuật y học cứu người. Người Tông An đưa niềm tin này cùng với họ đến Đài Loan. Năm 1742 (năm 7 của Qianlong), người Tông An từ Quảng Châu đến Đài Loan đưa về linh hồn Bảo Sĩ Đế, xây dựng một ngôi chùa nhỏ bằng gỗ đơn sơ tại Bảo Lãnh Băng. Đó là bản thân của một “chùa”. Bảo Sĩ Đế đã đến đây.

Vào năm 1830 (năm 10 của Daiguang), chùa chính thức hoàn thành.

Trên vách Bảo An Miếu có hơn 200 năm dán thành phim, các miếng đỏ và xanh lá nhãn kính dán lên tượng Tứ Bảo, Rồng Long, Hoa văn, dưới cái làng có hoạt tiếng. Trước năm 1995, những dán thành phim này bị lỏng, hoạt tiếng phai màu, trâm ăn vào khung gỗ. Năm 1985, chính phủ xếp Bảo An Miếu vào danh sách di tích lịch sử cấp 2, nhưng sau khi xếp hạng không ai sửa chữa.

Ghi chú của nhà triển lãm: Trục đường lịch sử của khu vực Dalongdong rất rõ ràng vì ba không gian tôn giáo xuất hiện cùng nhau trong vòng 1,5 km: Bảo An Miếu (1742-1830) tôn vinh Bảo Sĩ Đế là đứa trẻ y tế của người Tông An, Kinh Triều Hà Nội (1925-1939) tôn vinh Đức Trọng là vị thánh của người học hành Hán, và Ngọn Sơn Lớn (1952-1973) đứng trên một tòa nhà đỏ vàng với mái xanh đón tiếp khách quốc lãnh. Một trục đường ba thời kỳ, ba “đạo đức”. Hà Nội có nhiều khu phố lịch sử khác (Muzha, Daloi, Ximen) nhưng chỉ có trục đường Dalongdong-Ngọn Sơn mà ba thứ mục đích này vẫn còn nguyên vị trí. Muzha Longshanhsi 1738 là điểm đến duy nhất của quân quản Trung Quốc, Daloi 1885 là thành phố thương mại chính của thời Nhật, Ximen 1908 là khu vui chơi thời Nhật. Chỉ có trục đường Dalongdong-Ngọn Sơn, nơi mà Trung Quốc quản, những người Nhật phá hủy, xây dựng lại bằng phong tục chính phủ, ba lớp xuất hiện trước mắt bạn.

Không chỉ 300 năm, xuống 5.000 năm

Đi thẳng về phía bắc từ Bảo An Miếu, qua đường Kui Quan và đường Kulan, sẽ thấy Công viên Hoa Hoa. Phía đông của công viên có một cánh đồng không quá nổi bật, dưới đất là di tích lịch sử Ngọn Sơn.

Di tích này được phát hiện vào ngày 7 tháng 3 năm 1897 bởi các nhà nghiên cứu Nhật Bản Ishikawa Jiro và Miyamura Eiichi. Năm 1953-1954, giáo sư Trường Đại học Hà Nội Shih Chuang-jou dẫn dắt học trò tìm kiếm tại đỉnh ngọn sơn phía tây bắc thực hiện các khảo cổ hệ thống. Các vật phẩm được phát hiện chia thành hai lớp: lớp dưới là văn minh sợi dây (khoảng 6.500-4.500 năm trước), trên là văn minh Ngọn Sơn (khoảng 4.500-2.500 năm trước).

Đặc điểm nổi bật của văn minh Ngọn Sơn là vực ươm đất. Trong lớp đất cát pha trộn nhiều vỏ ươm đã ăn, xương động vật, xương cá, gốm sứ, đá cẩn thận, dụng cụ làm từ xương và gỗ. Các loài ươm chính là ngào lớn, ốc sạn, lưới cây, hàu, ống ngọ, ống vải. Ba loại đầu tiên là ươm nước ngọt, ba loại cuối cùng là ươm nước muối.

Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là người đồng đẦn thời kỳ đá lụa ở Ngọn Sơn có thể đồng thời thu hoạch ươm nước ngọt và nước muối. Khi đó, lũ đất Hà Nội còn là một hồ nước ngọt và muối hỗn hợp (hồ cổ Hà Nội), Ngọn Sơn là một hòn đảo nhỏ trong hồ. Họ trồng lúa, nuôi gia đình, săn bắn, câu cá, sống trong một khu dân cư có “tổ chức xã hội nghiêm ngặt và hệ thống niềm tin biểu tượng”.

Ngày 25 tháng 4 năm 1988, Bộ Nội quy công bố di tích lịch sử cấp 1 của Ngọn Sơn. Đây là di tích sự sống đầu tiên được chỉ định của Đài Loan, cũng là “điểm khởi đầu của khoa học khảo cổ Đài Loan”. Ngày 1 tháng 5 năm 2006, nó được chỉ định lại là di tích lịch sử quốc gia.

Bạn biết không: “Ưm” trong vực ươm đất Ngọn Sơn không chỉ là tạm chất ăn. Sau khi ăn ươm, người đồng đẦn thời kỳ đá lụa dùng vỏ ươm làm nền móng, xây tường, làm công cụ kinh. Một số dụng cụ từ xương (đũa cá, kim, đầu tên) cũng được mài từ xương động vật. Nói cách khác, họ không lãng phí. Khi bạn đi dạo chân trong công viên Hoa Hoa, xuống đất 50 cm chính là những mảnh rác và dụng cụ của người đời 5.000 năm trước.

Tiếp tục di chuyển về phía bắn từ di tích Ngọn Sơn, bạn sẽ thấy núi Đường Sơn. Theo truyền thuyết thế kỷ 17, quân đội của Zheng Chenggong đi qua đây gặp quái thú gây bão, Zheng Chenggong ném một cuộc cư xuống nước để ngụy trang quái thú. Năm 1732 (năm 10 của Yongzheng), cuốn “Tài liệu Đài Loan” ghi lại một phiên bản khác: bờ sông Đường Sơn có một cây cây cao vươn, “theo truyền thuyết người Hà Lan cắt cuộc cư vào cây, da dính lại, cuộc cư trong cây, do đó đặt tên”. Hai phiên bản khác nhau: cuộc cư của Zheng Chenggong trong nước, cuộc cư của người Hà Lan trong cây. Không có bản thể nào được các học giả xác nhận, nhưng tên “Đường Sơn” từ đó đính liền với núi rừng Hà Nội đến năm 2026.

Từ Đại Lãnh Băng đến Dalongdong: Bốn lớp tên địa danh

Ba chữ “Dalongdong” trước đây, khu vực này có tên khác.

Bản ghi nhất nhất là các tài liệu thời kỳ Hà Lan (1645-1655), khi bộ tộc Bạch Sơn (ngôn ngữ Bạch Sơn) có một bộ lục mang tên “Daronpon”, còn viết là Paronpon, Parongpom. Người Hán đến sau, dùng tiếng Nam Hán phiên âm thành “Đại Lãnh Băng” (cũng viết là “Ba Lâm Băng”).

Năm 1709 (năm 48 của Kangxi), các cổ đồng từ Quảng Châu Trần Fung-chun, Lai Vong-ho, Trần Thiên-chang, Trần Hien-bộ, và Đại Thiên-trúu năm chung đề nghị khai hoang đất lớn Đại Lai-lạ. “Trần Lai-chang” được cấp giấy khai hoang chính phủ. Phạm vi khai hoang từ Nam Tây Hồ, đến Dalongdong, từ Kết Đo đến Tân Trương, phần lớn lũ đất Hà Nội. Người Hán từng tới định cư Đại Lãnh Băng.

Năm 1742 (năm 7 của Qianlong), người Tông An xây dựng Bảo An Miếu tại Đại Lãnh Băng.

Năm 1802 (năm 7 của Jiagqing), các gia đình Tông An như Vong Yuen-ji, Vong Chi-ji, Trần Lan-ji, Trần Thắng-ji, Cao Minh-đệ, và Zeng Hsi-nguên mở ra 44 cửa hàng tại đây. Mỗi cửa hàng rộng một trương tám, sâu mười chín trương, xếp thành một con đường “một con rồng đi qua hẻm” được gọi là “bốn chục cầu” (cầu nghĩa là “cửa hàng” trong tiếng Nam Hán). Sáu gia đình này quyết định đổi tên thành “Đại Lượng Tông”, từ “Tăng trưởng Tông An” hát vang.

“Đại Lượng Tông” dùng trong vòng 50 năm. Đến thời Daiguang, Tongzhi (1820-1870), các học sinh đại học bắt đầu nhiều hơn, người dân “nhìn triển viên như rồng”, vì gần Ngọn Sơn có những đỉnh núi nhỏ phá lên đất phẳng “như rồng”, hình thành “lỗ rồng”, do đó đổi tên “Đại Lượng Tông” thành “Dalongdong”.

Bốn lớp tên địa danh: Daronpon (ngôn ngữ Bạch Sơn) → Đại Lãnh Băng (phiên âm tiếng Nam Hán) → Đại Lượng Tông (sau khi người Tông An đến) → Dalongdong (sau khi nhiều học sinh).

Tên cuối cùng này đã dùng đến ngày nay. Năm 1990, thành phố Hà Nội điều chỉnh lại các khu phố, khu vực này thuộc Quận Đông, và vượt sông Kết Đo thì thuộc Quận Trung. Tên “Đông” trực tiếp từ “Tăng trưởng Tông An” ngày nay.

Chi tiết cửa chùa Bảo An Miếu, tranh vẽ trên cửa chùa và tượng đá. Cửa chùa với tượng đá đứng trông giữ bảo vệ kể từ 280 năm trước, nhìn thấy Tông An chuyển đổi thành Dalongdong, nhìn thấy nhà Nhật phá hủy Kinh Triều, nhìn thấy chính phủ xây dựng Ngọn Sơn Lớn.
Cửa chùa Bảo An Miếu. Nhóm ảnh: Outlookxp, CC BY-SA 4.0 qua Wikimedia.

Năm 1853: Người đồng bào bị đàn hành, điểm đến đầu tiên không phải là Đại Lỗi Cả

Năm 1853 (năm 3 của Xianfeng), Muzha xảy ra trận chiến đấu. Các bên là người Tông Quan (Jinjiang, Nan'an, Hui'an) chủ động tấn công khu vực đồng bào, và người Tông An (tên gọi khác là Hạch Quan) chủ động bị đàn hành. Các bên Tông Quan dùng đường đến Tông Quan Tông Đàn Tông Sơn, tấn công khu vực đồng bào Tông An tập trung tại Bảy Giá Trường. Người Tông An bị đàn hành.

Câu chuyện lịch sử phổ biến là: “Người Tông An bị đàn hành, do Lin You-zao lãnh đạo, tìm tới Đại Lỗi Cả để xây dựng kinh tế thương mại mới”.

Nhưng giữa các điểm dừng này thiếu một chốt.

Bài viết trên Wikipedia về Dalongdong ghi lại: “Người Tông An bị đàn hành, tìm tới Dalongdong, dùng Bảo An Miếu làm trung tâm phòng thủ, sau đó chuyển đến Đại Lỗi Cả”. Nói cách khác, trong cuộc bị đàn hành năm 1853, điểm đến đầu tiên của người Tông An từ Muzha là Dalongdong, Đại Lỗi Cả lại là điểm đến sau. Họ tìm tới nơi Bảo An Miếu (ngôi chùa do người Tông An đến trước họ xây dựng năm 1742), dùng đây làm trung tâm phòng thủ, sau đó từ Dalongdong đi xuống, qua Quận Đông, chuyển đến Đại Lỗi Cả trung tâm.

Tuyến đường này hoàn toàn hợp lý về địa lý: từ Muzha đi về phía bắc, qua sông Tây Hồ upstream, đi quanh trung tâm thủ đô Hà Nội đến Dalongdong. Cùng tộc người Tông An của họ tìm thấy ở đây, Bảo An Miếu của họ là đứa trẻ y tế của người Tông An, ngôi chùa đã tồn tại 111 năm trước khi bị đàn hành. Đối với người Tông An bị đàn hành năm 1853, Bảo An Miếu vượt qua một vai trò thông thường của chùa chiếu, là nơi bảo vệ của cùng tộc.

Sau khi bị đàn hành, người Tông An mang theo tượng Thần Bảo Vệ từ Hà Nội, tiếp tục hướng đến Đại Lỗi Cả, đặt chân đến trung tâm thương mại mới. Năm 1859 (năm 9 của Xianfeng), tượng Thần Bảo Vệ tại Đại Lỗi Cả được xây dựng. Từ Bảy Giá Trường đến Bảo An Miếu Dalongdong, sau đó đến Đại Lỗi Cả Dihwa đường, đây là tia di chuyển sáu năm của người Tông An.

Ghi chú của nhà triển lãm: Cùng một tộc người để lại ba dấu vết tích lũy tại Hà Nội: Bảy Giá Trường (điểm đến trước năm 1853), Bảo An Miếu Dalongdong (điểm đến đầu tiên khi bị đàn hành), và Thần Bảo Vệ tại Đại Lỗi Cả (điểm đến cuối cùng). Ba nơi này có ý nghĩa khác nhau đối với người Tông An: Muzha là “gia đình mất mát”, Dalongdong là “nơi trú ẩn của cùng tộc”, Đại Lỗi Cả là “thành phố thương mại mới bắt đầu lại”. Khi đi qua ba nơi này, bạn có thể thấy cùng tộc người Tông An để lại các dấu vết khác nhau tại các giai đoạn khác nhau: Muzha Longshanhsi là “chúng tôi luôn ở đây”, Bảo An Miếu là “chúng tôi luôn ở đây”, Thần Bảo Vệ là “chúng tôi thoát khỏi đó đến đây”.

Năm 1859: Trần Vân Ngọn và kinh thư của ông

Từ Bảo An Miếu đi về phía đông 500 mét, đi qua đường Hami, đến đường Delay Bắc 4 đoạn, bạn sẽ thấy một ngôi nhà truyền thống màu xám trắng: tượng ngụm Trần Nhiếu-kí, thường gọi là “Kinh Thư”1.

Ngôi nhà này được xây năm 1807 (năm 12 của Jiagqing)12, năm Xianfeng đầu năm sửa chữa lại, được ghép thành hai khu vực lớn là Kinh Mộ Thư và Kinh Hoả Thư, cùng gồm hai tòa nhà đông và ba tòa nhà nam1, là ngôi nhà truyền thống kiểu Hán lớn nhất tại thành phố Hà Nội2. Gia đình xây ngôi nhà này xuất phát từ Quảng Châu, sau đó định cư tại Tông An, năm 1770 (năm 35 của Qianlong) Trần Xùn-nghĩa thành định cư tại Dalongdong1.

Trần gia có một con trai tên là Trần Vân Ngọn (1811-1869)3.

Năm 1859 (năm 9 của Xianfeng), Trần Vân Ngọn đạt cử nhập học viên3. Ông là người danh tiếng nhất của Dalongdong, nhưng công việc thực sự khiến cho thành phố tự hào khác là chuyện làm chương trình học thành công. Trần Vân Ngọn từng giữ chức giáo trưởng của tỉnh Hàn, và là trưởng của Học viện Học Hải Muzha, Học viện Thái Sơn Học viên3. Người dân địa phương tôn vinh ông là “giáo sư”, gọi gia đình ông là “Kinh Thư”1. Người sau lên tự thề ông là “nguyên bản văn phái Bắc Đài”4.

Trần gia sau này có 3 con đạt cử nhập học viên2. Trần Vân Ngọn xây hai cặp cột trụ đá cho trước lại, trên cột có rồng uốn lượn, dưới cột có rắn cào sâu, hình ảnh này biểu tượng cho “lên đến đỉnh của cột trụ còn phải cố gắng hơn”2. Đến năm 2026, hai cặp cột trụ còn lại một cặp được bảo tồn nguyên vẹn, là cột trụ đá duy nhất “rồng lên, rắn cào xuống” còn tồn tại trên toàn Đài Loan.

Dalongdong đã trở thành “khu phố có bầu không khí học thuật nhất của Hà Nội” nhờ công lao của Trần Vân Ngọn. Năm 1853 (năm 3 của Xianfeng), ông thành lập Học viện Cây Người trong Bảo An Miếu, tự giảng dạy5. Học viện của ông thu hút nhiều học sinh, phong trào văn hóa địa phương thịnh hành, có danh tiếng “năm bước một xuất, mười bước một cử nhập67, nghĩa là đi năm bước gặp một xuất, đi mười bước gặp một cử nhập.

Năm 1862 (năm 1 của Tongzhi), sự kiện Dai Chao Chun bùng phát, Trần Vân Ngọn tự nguyện tổ chức đội tập luyện giúp đỡ chính phủ, do đó được tặng hoa hồng3. Sau khi sự kiện dứt đi, ông xây một tòa nhà riêng tại bờ trái của sông Đường Sơn (hôm nay là Ngọn Sơn) mang tên “Thập Cơ Thành”. Tòa nhà này chính là nơi hiện nay là Ngọn Sơn Lớn89. Trần Vân Ngọn viết thơ, viết đối tượng tại Thập Cơ Thành, người sau tổng hợp thành “Thảo Hoành Lưu” và “Tập Cơ Thành đối tượng tập”34.

Năm 1869 (năm 8 của Tongzhi) ngày 9 tháng 10, Trần Vân Ngọn mất vì bệnh3. Nhưng tên “Kinh Thư” không dừng lại ở đây.

Học viện Cây Người sau này chuyển ra khỏi Bảo An Miếu (năm 1928), “do người dân cho rằng học viện không nên gắn liền với chùa nên chuyển đến”5, độc lập xây dựng Kinh Thư Tác Phú, năm 1932 hoàn thành10, ngày nay vẫn đứng trong hẻm phố Hami.

Sau khi Trần Vân Ngọn mất 27 năm (năm 1896), nhà Nhật đặt trường học thứ ba phụ thuộc của Bảo An Miếu (Tương lai Đại Lỗi Cả Tiểu học trước đó)11. Một ngôi chùa kéo theo hai trường học: sau Học viện Cây Người là trường học thứ ba của Nhật Bản. Trong cùng một khu vườn, học sinh trước mặc áo dài cúng Tác Phú, học sinh sau mặc nón đọc bảy âm.

Cột trụ rồng Bảo An Miếu, các cột trụ bát giác trên vách đối diện. Các cột này làm vào năm 1796-1820 (thời Daiguang), là tác phẩm đá cẩn thận sớm nhất của chùa.
Cột trụ rồng Bảo An Miếu. Nhóm ảnh: người đóng góp panoramio, CC BY 3.0 qua Wikimedia.

Năm 1917: Hai người thợ gỗ thi công, và lời châm biếm được khắc vào gỗ

Năm 1917 (năm 6 của Taisho), Bảo An Miếu sửa chữa lại.

Chùa nhờ hai người thợ gỗ nổi tiếng nhất thời kỳ: Trần Thanh-bin (thợ gỗ đại thổ) và Guo Ta (thợ gỗ trên đường Guoxing, Tây Bắc). Hai người thống nhất mỗi bên trục đường làm một nửa, mặt trước chùa chia làm hai bên rồng và hổ, Trần Thanh-bin làm bên rồng, Guo Ta làm bên hổ. Hai người thống nhất chung đề tài: “Tứ Bảo dịch hành đại hạn”12.

Cách làm này hai thợ gỗ cùng thi công, nhau thi đấu nhau, được gọi là “thi công đối diện” trong kiến trúc truyền thống Đài Loan1213. Khi hoàn thành, các chi tiết để lại bởi các thợ gỗ trở thành dấu vết để phân biệt “ai làm bên nào”.

Trần Thanh-bin thắng vì xướng sắc đẹp nhất. Guo Ta không chịu thua. Ông khắc vào bên hổ của tác phẩm gỗ một số câu nghĩa châm biếm:

Nhầm sư pháp thật sư pháp” (khắc trên đầu cột trụ)
Thợ gỗ đường Guoxing Guo Ta làm” (trên bên hổ của tác phẩm)
Thủ công thuật không đổi sửa” (ký tên)
Tốt nghiệp tay người không nối thêm” (tác giả)1213

Nghĩa là: thực sự không cần chỉnh sửa, một thợ gỗ tốt không cần nối thêm. Những câu này là những lời châm biếm để lại sau khi bị xét thua. Hôm nay, khi bạn nhìn vào Bảo An Miếu, những câu khắc này vẫn còn là bằng chứng để phân biệt thắng thua của thi công đối diện12.

Bức tranh trần bên ngoài nhà truyền thống là được bổ sung sau này. Năm 1973, chùa thuê các hoạt động truyền thống của Pháp Pan Li-hua (1914-1995) vẽ bảy bức tranh trần lớn14, chủ đề bao gồm <Hàn Thịnh dưới đôi cổ bị xúm phạ>, <Trần Kiến-chiến bảy trụ đá đánh Lưu Văn-lông>, <Trung Kiều đưa em về nhà], <Tứ Bảo dịch hành đại hạn>, <Hoa Ngọc thay cha đi chiến tranh>, <Ba Chiến tại Hồ Lửa Lưu Bố], <Xuân Tử xuất hành mẹ>14. Trận đấu gỗ năm 1917 + tranh trần năm 1973, Bảo An Miếu là một ngôi chùa xếp hai thời kỳ của nghệ thuật.

Cột trụ rồng bát giác trước nhà là năm 1796-1820 (thời Daiguang), là tác phẩm đá cẩn thận sớm nhất của chùa15. Cột trụ xuống đến trên, các mặt bằng trùnghuểm khắc trên mây trời, rồng móng, rồng tóc. Từ đầu cột trụ xuống, bạn có thể đọc được các kỹ sư đá cẩn thận sắp xếp các hoa văn theo bát bát phương hướng.

Hai bên chùa có 36 vạn thần tượng, làm vào năm 1829 (năm 9 của Daiguang) nhờ các nghệ sĩ nổi tiếng từ Quảng Châu Hsu Hsien đến Đài Loan, mất 5 năm mới hoàn thành16. Nói cách khác, người Tông An năm 1829 dành 5 năm, qua đại lục đề nghị các nghệ sĩ từ Quảng Châu để bảo vệ chùa.

Năm 1907: Khi nhà Nhật phá hủy Kinh Triều, Đức Trọng cũng không có nơi nương tựa

Năm 1879 (năm 5 của Guangxu), quản lý tỉnh Hà Nội Trần Xing-quốc dùng vật liệu thải và khoản tiền còn lại xây dựng Tác Văn Miếu tại cổng phía nam của tỉnh thành Hà Nội (vị trí hiện nay là Nữ high school Bắc và Trường đại học Bắc)17. Tác Văn Miếu bên trái, Văn Miếu bên phải. Năm 1884 (năm 10 của Guangxu), Tác Văn Miếu gốc của tỉnh Hà Nội hoàn thành17.

Nhưng ngôi Kinh Triều chỉ sống 23 năm.

Năm 1907, các thực dân Nhật phá hủy Kinh Triều gốc, trên cùng một địa điểm đặt “Trường học tiếng Trung của Hội đồng quản lý Đài Loan” (sau này là Trường đại học giáo dục Hà Nội, ngày nay là Đại học Bắc). Năm 1925, lại đặt trên đối diện “Trường Nữ cao đẳng đầu tiên của tỉnh Hà Nội” (ngày nay là Nữ high school Bắc)1819.

Đức Trọng không còn nơi nương tựa.

Năm 1925, các quan nhà địa phương tập trung tại tỉnh Thanh Hóa, thảo luận về việc làm thế nào để xây dựng lại Kinh Triều cho Đức Trọng? Nên xây ở đâu?1819

Thơ kể của gia đình Trần Nhiếu-kí, Trần Nhiếu-kim (thổ dân của Trần Vân Ngọn) đứng ra nói: “Nếu chuyển đến Dalongdong, tôi sẵn sàng hiến dâng đất riêng”19. Trần Nhiếu-kim hiến 2.000 mét vuông đất18.

Ngoài Trần Nhiếu-kim, còn có một người quan trọng khác là người hiến đất: Ngụ Hien-thuong (gia đình Ngụ tại Lộc Giang, cha của Ngụ Zhen-fu). Ngụ Hien-thuong mua thêm đất, hiến 1.000 mét vuông1819. Trần Nhiếu-kim + Ngụ Hien-thuong cộng lại 3.000 mét vuông, chính là diện tích hiện nay của Kinh Triều Hà Nội.

Năm 1927 bắt đầu thi công19. Trong khi thi công, phần trụ chính của Kinh Triều (được gọi là “Đại Sảnh”) do Vong Jin-mu (thợ gỗ thế hệ dịch Hổ) chịu trách nhiệm thi công19. Thế hệ dịch Hổ là một truyền thống làng nghề thợ gỗ tại Quảng Châu, là một trong những truyền thống lớn nhất về gia đình chùa ở Đài Loan. Năm 1929, “Đại Sảnh” hoàn thành19. Nhưng các phần khác của Kinh Triều (cửa chính, cửa phụ, lối đi, vách tường vạn thập) vẫn đang từng từng xây dựng. Đến năm 1939 (năm 14 của Showa) mới hoàn thành tất cả19.

Nói cách khác: 1907 phá Kinh Triều gốc → 1925 thảo luận xây dựng lại → 1927 bắt đầu thi công → 1929 hoàn thành “Đại Sảnh” → 1939 hoàn thành toàn bộ. Giữa các năm 32 năm, Đức Trọng mới có nơi nương tựa lại ở Dalongdong.

Sau chiến tranh, năm 1971, chính quyền thành phố Hà Nội thành lập Ủy ban quản lý Kinh Triều Hà Nội19. Vào tháng 9 năm 1970, quy chế “Cải tiến lễ hội tôn kính Đức Trọng” quy định: “thường xuyên tổ chức lễ hội bằng phong tục dân gian, vào tháng 9 thì tổ chức lễ hội chính phủ theo lễ nghi kỷ niệm sinh và diệt của Đức Trọng”19.

Ngày nay mỗi năm ngày 28 tháng 9, ngày hội giáo viên (cũng là ngày sinh và diệt của Đức Trọng) lúc bình minh, Kinh Triều Hà Nội tổ chức lễ nghi diệt đức Trọng20. Bọc vũ do học sinh lớp 6 của Trường Đại Lỗi Cả thực hiện phục vụ21, 8 hàng 8 cột, tổng cộng 64 người, cả nam và nữ, mặc áo dài màu vàng kết hợp với mỗi cột màu xanh đậm, giày đen21. Toàn bộ nghi lễ tuân thủ theo nghi lễ cổ điển, không xui băng, không diễn nghị, không hỏa thùế20.

Từ năm 1879 xây Kinh Triều đầu tiên tại trung tâm thành phố, 1907 nhà Nhật phá hủy, 1925 Trần Nhiếu-kim và Ngụ Hien-thuong hiến đất tái xây, 1939 hoàn thành, 1971 chính quyền thành phố nhận quản lý, đến năm 2026 học sinh lớp 6 của Trường Đại Lỗi Cả vẫn đang thực hành bọc vũ. Một ngôi chùa dùng 147 năm để đi qua triều đại nhà người Nhật, thời kỳ chiến tranh, đến hiện nay.

Kinh Triều Hà Nội với Đại Sảnh và khuôn viên, 1927 bắt đầu thi công, 1929 hoàn thành (Vong Jin-mu thế hệ dịch Hổ thi công), 1939 hoàn thành toàn bộ. Trần Nhiếu-kim hiến đất 2.000 mét vuông, Ngụ Hien-thuong mua thêm hiến 1.000 mét vuông tạo nên vị trí mới của Dalongdong.
Kinh Triều Hà Nội. Nhóm ảnh: người đóng góp panoramio, CC BY 3.0 qua Wikimedia.

Buổi chiều 1944, khi máy bay đây chầm Ngựu Miếu

Từ Kinh Triều Hà Nội đi về phía bắn 700 mét, qua sông Kết Đo, đến Ngọn Sơn.

Năm 1900 (năm 33 của Meiji), nhà Nhật bắt đầu xây dựng Ngựu Miếu trên đỉnh núi nhỏ này. Năm 1901 (năm 34 của Meiji) tháng 10, Ngựu Miếu hoàn thành22. Ngựu Miếu chính thức là tượng đứng của Hoàng hậu quân quốc Bắc Bãi Hồng Bảo Hồn Kinh Hiu-kinh22. Năm 1895, khi quân đội Nhật Bản nhận Đài Loan, Hoàng hậu Kinh Hiu-kinh qua đời tại Nam Hội. Nhà Nhật xây dựng Ngựu Miếu để kỷ niệm ông, là “ngôi mộ đại thần” cấp độ “ngôi mộ quốc hữu”22. “Ngôi mộ quốc hữu” là cấp độ cao nhất của các ngôi mộ Nhật Bản, chỉ có một ngôi duy nhất trên toàn Đài Loan22.

Đường phố trung tâm trước Ngựu Miếu là đường Bắc Ngọn Sơn 1, 2, 3 phần, là đường chính phục vụ du khách đến Ngựu Miếu do nhà Nhật xây dựng từ năm 189823. Năm 1929 hoàn thành thành phố ngập mát23.

Năm 1943-1944, Ngựu Miếu mở rộng xây dựng, thêm Kinh Hiu-kinh đứng lên, nâng cấp thành “Ngựu Miếu”22.

Ngày 25 tháng 10 năm 1944 (năm 19 của Showa), một chiếc máy bay hỗn hợp của Nhật Bản đây chầm khi hạ cánh tại sân bay Song-han và va vào Ngựu Miếu22. Vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Nhật Bản không còn khả năng sửa chữa, Ngựu Miếu bị đốt cháy2224.

Sau chiến tranh năm 1945, chính phủ Cộng hòa Trung Hoa nhận Đài Loan thiếu thiết bị sang trọng cho việc đón tiếp khách quốc lãnh, nên phá hủy tòa nhà cổ sư và đổi tên thành “Nhà hàng lớn Đài Loan”25. Ngày 10 tháng 5 năm 1952, do Tập đoàn Tín-lượng hợp tác của Mao Sung-mi-linh nhận quản lý, đổi tên thành “Ngọn Sơn Lớn”25. Người quản lý chính thức đầu tiên là cô gái Ngụ Er-xiao (Ngụ Lìng-vi, cháu gái của Mao Sung-mi-linh)25.

Người đầu tiên được đón tiếp là Hoàng gia Thái Lan Phum Mae-pong và Hoàng hậu Thị Lị-hi.

Năm 1973 ngày 10 tháng 10 (kỷ niệm ngày Quốc hội), do thiết kế của Yang Chou-cheng xây dựng một tòa nhà kiến trúc Trung Hoa 14 tầng25. Tòa nhà có chiều cao 14 tầng, mái vàng bằng đá lụa, cột trống đỏ, bao phủ toàn bộ đỉnh núi Tây Bắc của Đường Sơn. Từ đường Bắc Ngọn Sơn nhìn xuống, toàn bộ kiến trúc như một bản đồ thiên đồ của Hoàng đế Cung đình Thánh Địa26.

Yang Chou-cheng (1914-2006) là nhà thiết kế kiến trúc khu vực Đài Loan, các công trình nổi bật khác bao gồm Đình Niệm Trung Bình, Nhà hát Nhạc quốc gia, Nhà hát Kịch quốc gia, Nhà chùa Tác Phú27. Bốn công trình cộng với Ngọn Sơn Lớn, là bộ sưu tập năm công trình kiến trúc Trung Hoa của Yang Chou-cheng tại Hà Nội, là những công trình được tài trợ bởi Mao Zhong-bình và Mao Sung-mi-linh trong thập niên 1970-198027.

Cảnh báo quan điểm: Ngọn Sơn Lớn xây dựng trên địa điểm năm 1944 bị máy bay đây chầm Ngựu Miếu. Cùng một đỉnh núi, trước đây là Ngựu Miếu do nhà Nhật xây dựng để kỷ niệm chương tranh chiếm địa Đài Loan, sau chiến tranh thành “kiến trúc Trung Hoa” đỏ vàng của chính phủ Cộng hòa, hai ngôn ngữ kiến trúc, hai thời kỳ của quyền lực biểu tượng, xếp chồng lên nhau trên cùng một địa điểm. Vào ngày 27 tháng 6 năm 1995 buổi sáng, Ngọn Sơn Lớn tòa nhà 12 tầng bốt cháy (do công việc sửa chữa đá lụa không may dẫn đến cháy)28, cháy trong vòng 4 giờ, may mắn không có thiệt hại về người, cấu trúc kiến trúc không bị hỏng28. Một tòa nhà chỉ được đây chầm năm 1944, xây dựng lại năm 1973, cháy lại năm 1995. Cùng một địa điểm, hai lần cháy (1944, 1995), mỗi lần đều liên quan đến nghi lễ của chính quyền.

Ngọn Sơn Lớn kiến trúc 14 tầng kiến trúc Trung Hoa trước, cột trống đỏ mái vàng. Cùng một địa điểm, 1900 là Ngựu Miếu, 1944 bị máy bay đây chầm, 1952 Mao Sung-mi-linh Tín-lượng hợp tác nhận quản lý, 1973 thiết kế xây dựng mới hoàn thành.
Ngọn Sơn Lớn. Nhóm ảnh: shennongtw, Public domain qua Wikimedia.

Năm 1995: Lêu Văn-chi từ chối hỗ trợ chính phủ sửa chữa Bảo An Miếu, nhận được giải thưởng UNESCO khu vực châu Á đầu tiên của Đài Loan

Từ Ngọn Sơn Lớn quay lại hướng nam, xuống đỉnh núi qua sông Kết Đo, qua đường Kui Quan, sẽ trở lại Bảo An Miếu.

Năm 1994, Lêu Văn-chi nhận chức phụ chủ tịch Bảo An Miếu29. Ông đã cúng Bảo An Miếu trong vòng 70 năm, nhưng lần này ông làm một việc khác “khác lạ” như một “ông trưởng chùa” đã làm[^4]: năm 1995, ông chủ trì toàn bộ việc sửa chữa Bảo An Miếu29.

Lêu Văn-chi quyết định từ bỏ hỗ trợ chính phủ.

“Để tránh bị hạn chế bởi hệ thống không phù hợp của chính phủ để đạt được kết quả tốt nhất, Bảo An Miếu quyết định từ bỏ hỗ trợ chính phủ, tự nguyện xuất quỹ, và tự mình sửa chữa, thiết kế”29, đây là trường hợp đầu tiên của việc tái xây dựng di tích lịch sử do cộng đồng tự nguyện hỗ trợ tại Đài Loan29.

“Hệ thống không phù hợp” của chính phủ tại thời kỳ đó quy định công trình di tích lịch sử phải tuân theo tiêu chuẩn công trình công cộng, tìm đơn giản nhất, dùng bảng tiến độ công trình chung30. Nhưng sửa chữa các ngôi chùa truyền thống không phải là công trình chung, các tấm dán thành phim phải tìm thợ biết sửa chữa, hoạt tiếng phải tìm thợ biết vẽ, công trình lớn gỗ phải tìm người dịch Hổ hoặc dịch Zhang30. Nếu theo tiêu chuẩn công trình chung, người được mời tham gia có thể không biết nghệ thuật của chùa, và chùa được sửa chữa có thể trở thành “chùa sửa chữa sai”30.

Lựa chọn của Lêu Văn-chi là: chậm 7 năm, tự nguyện chi 2,6 tỷ đồng29, đồng thời sửa chữa mọi tấm dán thành phim, mọi cột trụ, mọi hoạt tiếng đều phải sửa chữa đúng.

7 năm. 2,6 tỷ. Vào đầu năm 2002, ba cầu trước, phòng đông, phòng tây, phòng sau, phòng chính hoàn thành15. Ngày 30 tháng 6 năm 2003, Bảo An Miếu tổ chức lễ “xả đất hoành tráng”15, đây là nghi lễ truyền thống kỷ niệm hoàn thành sửa chữa.

Cùng năm (2003), Liên Hợp Quốc Giáo dục Khoa học Văn hóa tặng “Giải thưởng bảo tồn di sản văn hóa châu Á” cho Bảo An Miếu3029. Đây là giải thưởng đầu tiên của UNESCO khu vực châu Á dành cho Đài Loan. Bản đánh giá viết như sau: “mô hình sửa chữa do cộng đồng tự nguyện”30.

Lêu Văn-chi sau này trở thành chủ tịch Bảo An Miếu29. Ngày nay mỗi năm trong tháng 3 đầu tiên, Bảo An Miếu tổ chức lễ hội văn hóa Bảo Sĩ Đế31, năm 2021 “Lễ hội lễ nghi Bảo Sĩ Đế” của Bảo An Miếu được đăng ký làm tài sản văn hóa dân gian15. Bảo Sĩ Đế là một trong “ba lễ hội chùa lớn của Hà Nội”15, trong thời gian lễ hội có các nghi lễ lặn, cháy lửa, chùa chiếu lửa rùn gió[...]

Ghi chú của nhà triển lãm: Lựa chọn của Lêu Văn-chi có hai ý nghĩa. Một là “sự kiên trì với chất lượng nghệ thuật”: ông từ bỏ hỗ trợ chính phủ, tìm thợ phù hợp sửa chữa đúng vị trí. Hai là “khả năng tự trị của cộng đồng”: chi phí sửa chữa 2,6 tỷ của Bảo An Miếu đều đến từ quyên góp của tín đồ, chứng minh cộng đồng dân sự của Đài Loan có khả năng độc lập bảo tồn di tích lịch sử. Năm 2003, bản đánh giá của UNESCO “mô hình sửa chữa do cộng đồng tự nguyện” là lần đầu tiên của tổ chức quốc tế công nhận văn hóa chùa, mạng lưới tín đồ, di sản thủ công của Đài Loan hình thành thành một hệ sinh thái toàn diện, có thể bảo vệ một ngôi chùa 200 năm trở lên. Mô hình này sau này được tham khảo bởi các di tích khác của Đài Loan, nhưng rất ích có ngôi chùa nào có thể sao chép lại. Sự đặc biệt của Lêu Văn-chi là quyết tâm tìm đến độ dày của cộng đồng để hỗ trợ.

1972: Kế hoạch “Mười lăm lục” cắt bốn chục cầu làm một nửa

Năm 1972 (năm 61 của Cộng hòa Trung Hoa) ngày 10 tháng 6, thành phố Hà Nội chuyển thành thành phố trực thuộc trung ương32. Thành phố bắt đầu triển khai “Kế hoạch Mười lăm lục”, ngân sách 3 tỷ đồng chia cho hai năm, mục tiêu cải thiện khu phố cũ kỹ từ Muzha đến Dalongdong32.

Năm 1973-1974, thành phố mở rộng đường Hami, đường Kui Quan, mở rộng đường Hà Đông, thẳng hoá đường Lào Sơn thành ngày nay là đường Dalongdong32.

Bốn chục cầu nằm trên đường Hami32. Hình ảnh cũ năm 1973 cho thấy “Kế hoạch Mười lăm lục” mở rộng đường Hami, phần đầu tiên của các cửa hàng phía nam bị xây hủy32. Nói cách khác, 1802 năm mở 44 cửa hàng của Vong Yuen-ji và các gia đình khác (nhỏ nhất của Dalongdong), bị thành phố cắt một nửa.

Cắt phần nào? Phần đầu tiên của các cửa hàng phía nam. Cửa hàng dạng rồng một đoạn được xếp thành “cửa hàng → hẻm → khu vực sau” được sắp xếp. Phía nam của các cửa hàng bị xây hủy, còn lại là phần sau và một phần hẻm32.

Đường 170 năm, còn lại dưới một nửa.

Hôm nay, khi bạn đi trên đường Hami, có thể nhìn thấy “phong cách cổ khu phố Dalongdong” là hỗn hợp: một phần là bề mặt cửa hàng cổ của 1802, một phần là cửa hàng được tái xây sau khi mở rộng năm 1973, một phần là các cửa hàng được xây dựng lại trong thập niên 1980-1990. Dự án “Khôi phục không gian lịch sử bốn chục cầu của Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Xã hội Nhân sinh của Viện Nghiên cứu Thông tin Địa lý” năm 2025, là dự án dùng GIS khôi phục lịch sử các lớp không gian của bốn chục cầu33.

Từ Bảo An Miếu đi về phía đường Hami, bạn sẽ đi qua chợ đêm Dalongdong34. Phạm vi chợ đêm tập trung vào giao nhau của đường Dalongdong và đường Hami, các gian hàng chính là món ăn nhanh: thịt bò xào của Guoji, cơm chiên của A-ren, tách trà của Nhà trà (mở từ năm 1981 đến ngày nay, tách trà nhỏ 15 đồng, tách lớn 1.000 cc chỉ 25 đồng), bánh kẹo của Đình Vương, cơm chiên truffles của Cánh đồng cá34. Các gian hàng trung bình tuổi thọ 30-40 năm là bụng của cộng đồng cổ kính.

Kết thúc chợ đêm, đi về phía Kinh Triều, bạn sẽ đi qua khu phố nhỏ của Học viện Cây Người Tác Phú (1928 di chuyển ra khỏi Bảo An Miếu, 1932 hoàn thành)510. Sau đó đi qua Trường Đại Lỗi Cả (thành lập 1896, tòa nhà 1933 hoàn thành)11, đến Kinh Triều Hà Nội.

Trục đường 1,5 km (Bảo An Miếu → Học viện Cây Người Tác Phú → Trường Đại Lỗi Cả → Kinh Triều Hà Nội → Di tích Ngọn Sơn → Công viên Ngọn Sơn → Ngọn Sơn Lớn) là lớp thời gian đặc sắc nhất của Hà Nội:

  • 5.300 năm văn minh đá lụa của vực ươm đất Ngọn Sơn
  • Thế kỷ 17 các bộ tộc Bạch Sơn Đại Lãnh Băng xã hội
  • 1742 người Tông An xây dựng Bảo An Miếu
  • 1802 bốn chục cầu
  • 1807 Kinh Thư
  • 1830 Bảo An Miếu chính thức hoàn thành
  • 1859 Trần Vân Ngọn đạt cử nhập học viên
  • 1879 Kinh Triều đầu tiên tại trung tâm thành phố
  • 1897 Công viên Ngọn Sơn, di tích Ngọn Sơn được phát hiện
  • 1907 nhà Nhật phá Kinh Triều gốc
  • 1925-1939 Kinh Triều mới tại Dalongdong
  • 1944 Ngựu Miếu bị máy bay đây chầm
  • 1952 Ngọn Sơn Lớn đổi tên
  • 1972 Kế hoạch Mười lăm lục cắt bốn chục cầu
  • 1973 Yang Chou-cheng thiết kế xây dựng 14 tầng kiến trúc Trung Hoa
  • 1988 Di tích Ngọn Sơn được xếp hạng cấp 1
  • 1995-2003 Lêu Văn-chi tự nguyện sửa chữa Bảo An Miếu, nhận giải UNESCO

Đi hết trục đường này mất khoảng 30 phút.

Bảo An Miếu phòng chính toàn cảnh, mái nhà kiểu hắc sơn bát giác và bảy tòa nhà chùa. 1995-2002 Lêu Văn-chi chỉ đạo sửa chữa, 2003 nhận giải UNESCO khu vực châu Á, báo cáo viết “mô hình sửa chữa do cộng đồng tự nguyện”.
Bảo An Miếu phòng chính. Nhóm ảnh: Bgabel, CC BY-SA 4.0 qua Wikimedia.

Bảo vệ cử tượng tự do sáng sớm, vẫn đang diễn ra

Quay lại đầu bài viết. Bảo An Miếu, đội thi đấu cử tượng tự do vẫn đang tập luyện vào sáng bây giờ. Mười mấy người đàn ông, phụ nữ đang di chuyển chậm chạp như chậm lại gấp đôi. Họ đứng ở vị trí, dưới đất là nền chùa do người Tông An xây dựng năm 1742. Tiếp xuống 5 mét, là phạm vi khai hoang của Trần Lai-chang năm 1709. Xuống 20 mét, là lớp vực ươm đất Ngọn Sơn 5.300 năm trước.

Họ không nghĩ đến các điều này. Họ chỉ đến đây thi đấu cử tượng tự do vào sáng bây giờ. Sau khi thi đấu xong, họ đi ăn một tô bò xào hoặc uống một tách trà của Nhà trà (mở từ năm 1981 đến ngày nay, tách trà nhỏ 15 đồng)34, như hôm quy, như ngày mới, như trước khi Lêu Văn-chi tự nguyện sửa chữa Bảo An Miếu, như trước khi Học viện Cây Người di chuyển ra khỏi Bảo An Miếu, như trước khi Trần Vân Ngọn đạt cử nhập học viên.

Về phía bắn 1,5 km, mái vàng của Ngọn Sơn Lớn phản chiếu trong ánh sáng bình minh. Tiếp xuống bắc qua sông Kết Đo, đỉnh núi Đường Sơn sẽ xuống. ở giữa là Công viên Ngọn Sơn, dưới đất vẫn còn những vực ươm đất Ngọn Sơn chưa được khai quật.

Về phía nam 700 mét, mái vàng của Đại Sảnh Kinh Triều Hà Nội yên tĩnh trong bóng mây. Đi thêm vài tháng, ngày 28 tháng 9 ngày hội giáo viên lúc bình minh, 64 học sinh lớp 6 của Trường Đại Lỗi Cả sẽ đứng trong khuôn viên này nhảy bọc vũ, chuyển động chậm chạp như người đồng đẦn 5.300 năm trước đang đàn cá.

Bên đông khuôn viên chùa, ba chìa hương đang cháy. Khói không thẳng, bị gió sáng thổi nghiêng nghiêng, bay về phía bắc. Bắc là đỉnh núi Đường Sơn, đây là đỉnh nơi năm 1944 Ngựu Miếu bị máy bay đây chầm, đây là đỉnh năm 1973 Yang Chou-cheng thiết kế xây dựng kiến trúc, đây là đỉnh năm 1862 Trần Vân Ngọn xây dựng Thập Cơ Thành viết thơ, đây là đỉnh nơi người đồng đẦn 5.300 năm trước sống.

Khói bay qua, tan ra trên đỉnh núi.

Ba thời kỳ tôn giáo của Hà Nội, xếp thành một trục đường 1,5 km, không có trình tự, không bao phủ, chỉ là xếp thành một. Dưới chân bạn là lớp thời gian đặc sắc nhất của Hà Nội.

Đọc thêm:

  • Hà Nội — Tỉ lục đầy đủ của thành phố Hà Nội, nơi Dalongdong nằm, từ năm 1709 Trần Lai-chang khai hoang đến năm 2026 toàn bộ
  • Muzha — Khu phố sớm nhất của Hà Nội, Longshanhsi 1738, một đầu của trận đấu đất đai năm 1853
  • Daloi — Địa điểm cuối cùng của người Tông An năm 1853, trung tâm thương mại giao dịch trà năm 1860, đối tác khác nhưng khác biệt với Dalongdong
  • Ximen — Khu vui chơi thời Nhật năm 1908, thử nghiệm thành phố hoàn toàn khác với Dalongdong
  • Văn hóa tôn giáo và kiến trúc chùa Đài Loan — Bảo An Miếu, sửa chữa Lêu Văn-chi, giải thưởng UNESCO toàn bộ lịch sử
  • Sân bay — Trận đấu giao dịch của Trần Vân Ngọn và học viện tại Dalongdong, hai bên đối đầu với quân đội Trung Quốc và người Tông An

Nguồn ảnh

Bài viết sử dụng 6 bức ảnh có giấy phép CC và công cộng, tất cả được lưu trữ trong public/article-images/geography/ để tránh gọi trực tiếp đến nguồn máy chủ:

Tài liệu tham khảo

  1. Nhà tượng Trần Nhiếu-kim (Wikipedia) — Nhà tượng Trần Nhiếu-kim là ngôi nhà của giáo sư Trần Vân Ngọn, được xây năm 1807 (năm 12 của Jiagqing), năm Xianfeng đầu năm sửa chữa lại, được ghép thành hai khu vực lớn là Kinh Mộ Thư và Kinh Hoả Thư, cùng gồm hai tòa nhà đông và ba tòa nhà nam; gia đình Trần xuất phát từ Quảng Châu, sau đó định cư tại Tông An, năm 1770 (năm 35 của Qianlong) Trần Xùn-nghĩa thành định cư tại Dalongdong.
  2. Bạn bè trên đường dài: Nhà tượng Trần Nhiếu-kim — cột trụ đá duy nhất “rồng lên, rắn cào xuống” còn tồn tại trên toàn Đài Loan — Gia đình Trần xuất hiện 3 con đạt cử nhập học viên, xây hai cặp cột trụ đá cho trước lại, trên cột có rồng uốn lượn, dưới cột có rắn cào sâu, cho đến ngày nay vẫn còn một cặp được bảo tồn nguyên vẹn, là cột trụ đá duy nhất “rồng lên, rắn cào xuống” còn tồn tại trên toàn Đài Loan.
  3. Trần Vân Ngọn (Đài Loan, Wikipedia) — Trần Vân Ngọn (1811-1869), biểu tượng “thổ dân”, đạt cử nhập học viên năm 1859 (năm 9 của Xianfeng), năm 1862 tự nguyện tổ chức đội tập luyện giúp đỡ chính phủ, được tặng hoa hồng. Sau khi sự kiện dứt đi, ông xây một tòa nhà riêng tại bờ trái của sông Đường Sơn (hôm nay là Ngọn Sơn) mang tên “Thập Cơ Thành”.
  4. Học thành phố: Được phép xuất hiện tại Kinh Triều Hà Nội! “Nguyên bản văn phái Bắc Đài” Trần Vân Ngọn — Trần Vân Ngọn được sau này tự thề là “nguyên bản văn phái Bắc Đài”, có tác phẩm “Thảo Hoành Lưu”, “Tập Cơ Thành đối tượng tập”, “Thảo Hoành Lưu”.
  5. Học viện Cây Người Tác Phú (Wikipedia) — Học viện Cây Người do Trần Vân Ngọn năm 1853 (năm 3 của Xianfeng) thành lập tại Bảo An Miếu, 1928 (năm 3 của Showa) di chuyển ra khỏi Bảo An Miếu chọn địa điểm hiện tại, 1932 hoàn thành.
  6. Dalongdong (Wikipedia)§ Người Tông An đến và năm 1853 bị đàn hành — Năm 1802 (năm 7 của Jiagqing), các gia đình Tông An như Vong Yuen-ji, Vong Chi-ji, Trần Lan-ji, Trần Thắng-ji, Cao Minh-đệ, và Zeng Hsi-nguên mở ra 44 cửa hàng; năm 1853 người Tông An bị đàn hành, tìm tới Dalongdong, dùng Bảo An Miếu làm trung tâm phòng thủ, sau đó chuyển đến Đại Lỗi Cả.
  7. Học thành phố: Địa điểm sinh ra tài năng học thuật của Hà Nội? Từ trận đấu máu me đến cổng thiên đường, Dalongdong và phong trào giáo dục — Dalongdong nhờ công lao của Trần Vân Ngọn, phong trào văn hóa địa phương thịnh hành, có danh tiếng “năm bước một xuất, mười bước một cử nhập”; gần Ngọn Sơn có những đỉnh núi nhỏ phá lên đất phẳng “như rồng”, hình thành “lỗ rồng”, do đó đổi tên “Đại Lượng Tông” thành “Dalongdong”.
  8. Trước và sau kỷ niệm kỷ niệm — Thập Cơ Thành thời kỳ — Thập Cơ Thành nằm trên bờ tây của Ngọn Sơn, là tòa nhà riêng của Trần Vân Ngọn năm 1862 sau sự kiện Dai Chao Chun, sau này trở thành khu vực làm chơi cho trẻ em.
  9. Tập hợp tài liệu văn học Trần Vân Ngọn: Bộ sưu tập tài liệu văn học Đài Loan 9 — Nhà truyền thống văn hóa Đài Loan — Trần Vân Ngọn thành thạo thơ, viết “Thảo Hoành Lưu”, người sau tổng hợp thành “Tập Cơ Thành đối tượng tập”.
  10. Ủy ban quản lý Kinh Triều Hà Nội: Tác Phú (Học viện Cây Người) — Học viện Cây Người tại Bảo An Miếu do Trần Vân Ngọn 1853 năm thành lập, 1928 di chuyển ra khỏi Bảo An Miếu, 1932 hiện tại hoàn thành; là di tích lịch sử quốc gia của thành phố Hà Nội.
  11. Lịch sử Trường Đại Lỗi Cả — Trường Đại Lỗi Cả được thành lập năm 1896 (năm 16 của Cộng hòa Trung Hoa), thời gian đó là “trường học thứ ba phụ thuộc của Bảo An Miếu”; năm 1933 tòa nhà hiện tại hoàn thành, năm 2006 được đăng ký là di tích lịch sử của thành phố Hà Nội.
  12. Guo Ta (Wikipedia) — Năm 1917 thi công đối diện Bảo An Miếu, Trần Thanh-bin và Guo Ta hai người đồng thời thi công, chia đều chủ đề “Tứ Bảo dịch hành đại hạn”; sau khi Bảo An Miếu xét thua Trần Thanh-bin, Guo Ta khắc vào bên hổ của tác phẩm gỗ “Nhầm sư pháp thật sư pháp”, “Thợ gỗ đường Guoxing Guo Ta làm”, “Thủ công thuật không đổi sửa”, “Tốt nghiệp tay người không nối thêm” những câu châm biếm.
  13. Ramble Hà Nội: Thi công đối diện Bảo An Miếu — Điều gì xảy ra sau khi hai thợ gỗ thi công? — Vị trí và chi tiết thi công đối diện Bảo An Miếu năm 1917, bao gồm vị trí chính xác của các câu khắc của Guo Ta (nhà thợ, cột trụ).
  14. Phan Li-hua (Wikipedia) — Phan Li-hua (1914-1995) năm 1973 vẽ bảy bức tranh trần lớn cho Bảo An Miếu phòng chính, chủ đề bao gồm <Hàn Thịnh dưới đôi cổ bị xúm phạ>, <Trần Kiến-chiến bảy trụ đá đánh Lưu Văn-lông>, <Trung Kiều đưa em về nhà], <Tứ Bảo dịch hành đại hạn>, <Hoa Ngọc thay cha đi chiến tranh>, <Ba Chiến tại Hồ Lửa Lưu Bố], <Xuân Tử xuất hành mẹ>.
  15. Dalongdong Bảo An Miếu (Wikipedia) — Năm 1742 (năm 7 của Qianlong) tại Bảo Lãnh Băng xây dựng bằng tre, linh hồn Bảo Sĩ Đế được đưa về từ chùa Các Nhân tử ở Bãi Rừng Hồng, Quảng Châu; năm 1830 (năm 10 của Daiguang) chính thức hoàn thành; ngày 30 tháng 6 năm 2003 tổ chức lễ “xả đất hoành tráng”; năm 2021 lễ hội Bảo Sĩ Đế được đăng ký làm tài sản văn hóa dân gian.
  16. Lễ hội Bảo Sĩ Đế: Với Đức Trọng cùng đi — Hai bên Bảo An Miếu có 36 vạn thần tượng, năm 1829 (năm 9 của Daiguang) nhờ các nghệ sĩ nổi tiếng từ Quảng Châu Hsu Hsien đến Đài Loan, mất 5 năm mới hoàn thành.
  17. Ủy ban quản lý Kinh Triều Hà Nội: Bối cảnh lịch sử — Tác Văn Miếu do Trần Xing-quốc năm 1879 (năm 5 của Guangxu) dùng vật liệu thải và khoản tiền còn lại xây dựng tại cổng phía nam của tỉnh thành Hà Nội (vị trí hiện nay là Nữ high school Bắc và Trường đại học Bắc), năm 1884 (năm 10 của Guangxu) hoàn thành.
  18. eĐài Loan: Lịch sử xây dựng Kinh Triều Hà Nội thời Nhật — Năm 1907 nhà Nhật phá Kinh Triều gốc thay bằng trường học tiếng Trung (sau đó là Đại học Bắc), năm 1925 lại đặt trên đối diện Nữ high school đầu tiên của tỉnh Hà Nội (ngày nay là Nữ high school Bắc); năm 1925 các quan nhà địa phương tập trung tại tỉnh Thanh Hóa, thảo luận về việc tái xây Kinh Triều cho Đức Trọng, Trần Nhiếu-kim hiến đất 2.000 mét vuông, Ngụ Hien-thuong mua thêm hiến 1.000 mét vuông.
  19. Kinh Triều Hà Nội (Wikipedia) — Năm 1927 bắt đầu thi công, Đại Sảnh do Vong Jin-mu (thợ gỗ thế hệ dịch Hổ) chịu trách nhiệm thi công, 1929 hoàn thành; 1939 hoàn thành cửa chính, cửa phụ, lối đi, vách tường vạn thập; 1971 thành lập Ủy ban quản lý Kinh Triều Hà Nội; năm 1970 tháng 9 quy chế “Cải tiến lễ hội tôn kính Đức Trọng” quy định xuân hội dân gian, hạ hội chính phủ theo lễ nghi kỷ niệm sinh và diệt của Đức Trọng.
  20. Lễ nghi diệt Đức Trọng của Ủy ban quản lý Kinh Triều Hà Nội — Lễ nghi diệt Đức Trọng kỷ niệm sinh và diệt của Đức Trọng, ngày 28 tháng 9 lúc bình minh tổ chức; tuân thủ theo nghi lễ cổ điển không xui băng, không diễn nghị, không hỏa thùế.
  21. Bọc vũ (Wikipedia) — Bọc vũ của lễ nghi diệt Đức Trọng do học sinh lớp 6 Trường Đại Lỗi Cả phục vụ, 8 hàng 8 cột, tổng cộng 64 người; cả nam và nữ, mặc áo dài màu vàng kết hợp với mỗi cột màu xanh đậm, giày đen.
  22. Ngựu Miếu (Wikipedia) — Ngựu Miếu năm 1900 xây dựng, năm 1901 tháng 10 hoàn thành, là “ngôi mộ đại thần” duy nhất của Đài Loan; chính thức là tượng đứng của Hoàng hậu quân quốc Bắc Bãi Hồng Bảo Hồn Kinh Hiu-kinh; năm 1943-1944 mở rộng xây dựng, nâng cấp thành “Ngựu Miếu”; năm 1944 tháng 10 ngày 25, chiếc máy bay hỗn hợp của Nhật Bản đây chầm khi hạ cánh tại sân bay Song-han và va vào Ngựu Miếu.
  23. Thành phố Hà Nội Quận Trung: Lịch sử phát triển — Năm 1898 nhà Nhật xây dựng “đường phục vụ Ngựu Miếu” (đường chính phục vụ khách đến Ngựu Miếu), 1929 hoàn thành thành phố ngập mát.
  24. Ngựu Miếu (ngôi mộ đại thần) — Ngày 25 tháng 10 năm 1944 chiều, chiếc máy bay hỗn hợp của Nhật Bản đây chầm tại sân bay Song-han, vào lúc cuối chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Nhật Bản không còn khả năng sửa chữa, Ngựu Miếu bị đốt cháy.
  25. Ngọn Sơn Lớn (Wikipedia) — Năm 1945 sau khi Cộng hòa Trung Hoa nhận Đài Loan, phá hủy tòa nhà cổ sư và đổi tên thành “Nhà hàng lớn Đài Loan”; ngày 10 tháng 5 năm 1952, do Tập đoàn Tín-lượng hợp tác của Mao Sung-mi-linh nhận quản lý, đổi tên thành “Ngọn Sơn Lớn”; ngày 10 tháng 10 năm 1973 tòa nhà kiến trúc Trung Hoa 14 tầng hoàn thành.
  26. VERSE: Đại lục màu đỏ kỷ niệm — Lịch sử và đổi mới của Ngọn Sơn Lớn — Ngọn Sơn Lớn đã đón tiếp hơn 111 người lãnh đạo quốc gia, người đầu tiên là Hoàng gia Thái Lan Phum Mae-pong và Hoàng hậu Thị Lị-hi; kiến trúc có chiều cao 14 tầng, mái vàng bằng đá lụa và cột trống đỏ phản chiếu.
  27. Yang Chou-cheng (Wikipedia) — Yang Chou-cheng (1914-2006), kiến trúc sư khu vực Đài Loan, các công trình nổi bật khác bao gồm Ngọn Sơn Lớn, Đình Niệm Trung Bình, Nhà hát Nhạc quốc gia, Nhà hát Kịch quốc gia, Nhà chùa Tác Phú; chuyên dùng bê tông thép biểu diễn đặc trưng kiến trúc phía bắc Trung Hoa.
  28. Sự kiện cháy Ngọn Sơn Lớn 1995 — Ngày 27 tháng 6 năm 1995 buổi sáng, tại góc tây bắc của tầng 12 của Ngọn Sơn Lớn, trong quá trình sửa chữa đá lụa, do công việc hàn giao không may dẫn đến cháy nổ.
  29. Lêu Văn-chi (Wikipedia) — Lêu Văn-chi nhận chức phụ chủ tịch Bảo An Miếu năm 1994, chủ trì toàn bộ việc sửa chữa Bảo An Miếu, quyết định từ bỏ hỗ trợ chính phủ, tự nguyện xuất quỹ, là trường hợp đầu tiên của việc tái xây dựng di tích lịch sử do cộng đồng tự nguyện hỗ trợ tại Đài Loan; dự án sửa chữa kéo dài 7 năm, chi tiêu 2,6 tỷ đồng; năm 2003 nhận giải thưởng UNESCO khu vực châu Á.
  30. Tạp chí Bảo Hoàng Hà Nội: Làm cho UNESCO thấy Bảo An Miếu — Lêu Văn-chi một cách khác** — Ghi lại chi tiết quá trình sửa chữa Bảo An Miếu do Lêu Văn-chi chỉ đạo từ 1995-2002, bao gồm lý do từ bỏ hỗ trợ chính phủ, nội dung báo cáo giải thưởng UNESCO khu vực châu Á.
  31. Trang web chính thức Lễ hội Bảo Sĩ Đế — Bảo Sĩ Đế sinh vào ngày 15 tháng 3 đầu tiên, Bảo An Miếu tổ chức lễ hội lớn, đường đi, cháy lửa, lễ hội chùa chiếu lửa rùn gió...; năm 2021 lễ hội Bảo Sĩ Đế được đăng ký làm tài sản văn hóa dân gian.
  32. Báo giờ: Năm 1972, khu phố cũ được sửa chữa! “Kế hoạch Mười lăm lục” cải thiện diện mạo kỹ thuật của Muzha và Dalongdong — Ngày 10 tháng 6 năm 1972, thành phố Hà Nội chuyển thành thành phố trực thuộc trung ương, thành phố triển khai “Kế hoạch Mười lăm lục”, ngân sách 3 tỷ đồng chia cho hai năm; năm 1973 hình ảnh cũ cho thấy “Kế hoạch Mười lăm lục” mở rộng đường Hami, phần đầu tiên của các cửa hàng phía nam bị xây hủy.
  33. Trung tâm Nghiên cứu Thông tin Địa lý của Viện Nghiên cứu Văn hóa Xã hội Nhân sinh: Khôi phục không gian lịch sử bốn chục cầu của Dalongdong — Năm 2025 Trung tâm Nghiên cứu Thông tin Địa lý của Viện Nghiên cứu Văn hóa Xã hội Nhân sinh thực hiện dự án “Khôi phục không gian lịch sử bốn chục cầu của Dalongdong”, sử dụng công nghệ GIS khôi phục lịch sử các lớp không gian.
  34. Hà Nội du xuân: Khám phá khu phố Dalongdong tìm kiếm ánh sáng xưa của khu phố cổ — Phạm vi chợ đêm Dalongdong tập trung vào giao nhau của đường Dalongdong và đường Hami; các gian hàng đặc sản là thịt bò xào của Guoji, cơm chiên của A-ren, tách trà của Nhà trà (mở từ năm 1981 đến ngày nay), bánh kẹo của Đình Vương, cơm chiên truffles của Cánh đồng cá.
Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
Dalongdong Ngọn Sơn Hà Nội khu phố lịch sử Bảo An Miếu Bảo Sĩ Đế Kinh Triều Hà Nội Ngọn Sơn Lớn Kinh Thư Trần Vân Ngọn Ka-de-a-ka-lan-tộc Đại Lãnh Băng xã hội Bốn chục cầu người Tong An Lêu Văn-chi Yang Chou-cheng di tích Ngọn Sơn loạp series khu phố lịch sử
Chia sẻ

Đọc thêm

Có thể bạn cũng muốn đọc

Nghệ thuật

Kiến trúc Đài Loan

Từ nhà đá phiến đến những tòa nhà chọc trời: hành trình xuyên thời gian qua kiến trúc của một đảo quốc

閱讀全文
Văn hóa

Tín ngưỡng tôn giáo Đài Loan: Đế chế đức tin sinh trưởng từ nỗi sợ

Hòn đảo có mật độ đền miếu cao nhất thế giới và đứng thứ hai châu Á về tự do tôn giáo; hai tín ngưỡng lớn nhất — Vương gia và Ma Tổ — đều có nguồn gốc lịch sử gắn với dịch bệnh và cái chết. Từ những di dân quân sự thế kỷ XVII mang tượng thần vượt Hắc Thủy Câu, đến 94 điểm trong báo cáo tự do năm 2025; từ việc Nhất Quán Đạo bị cấm năm 1953 và trở thành tôn giáo đầu tiên được hợp pháp hóa sau khi dỡ bỏ thiết quân luật năm 1987, đến bốn tông phái Phật giáo lớn và Giáo hội Trưởng Lão đi theo những con đường riêng trong quan hệ giữa tôn giáo và chính trị — tín ngưỡng Đài Loan không nằm trong kinh sách, mà hiện hữu trong làn hương khói nơi góc phố.

閱讀全文
Địa lý

Gongguan: Phòng thí nghiệm của Đế quốc Nhật Bản, Quán kafe dưới đất trong thời kỳ trừng trũi, Vịt chiên xù của sinh viên Đại học Đài Loan, 500 mét ba thế kỷ

Năm 1928, các nhà nước Nhật Bản đã xây dựng "Đại học Đế quốc Đài Bắc" tại phía nam của Đài Bắc. Các con phố như Zhenzhou, Tânhiên, và Nguyênkhang ở ngưỡng cổng trường đã trở thành khu dã nghiên cứu. Sau chiến tranh, năm 1949, các tị hồ quan họ được chuyển giao khoảng trống, khiến khu phố trở thành không gian vật chất của phong trào tự do và tội ác trắng. Vào năm 1999, khi tuyến đường sắt đen mở cửa, vòng tròn Gongguan biến thành máy atm ăn tối của sinh viên Đại học Đài Loan. Ba thế kỷ, ba phong cách, ba mốc lịch sử, tất cả gấp đóng trong 500 mét.

閱讀全文
Nghệ thuật

Môi trường nghệ thuật sinh mới: Bảy năm vươn tới trước khi cơ cấu hỗ trợ đến — Tòa nhà cổ 400 pial trên Đường Yênh Phúc năm 1992===

Vào tháng 6 năm 1992, Du Trạch Nguyên trên Đường Yênh Phúc hai phần, Tây Nhân, một tòa nhà cổ dài 400 pial đã khai trương "Môi trường nghệ thuật sinh mới". Khi quỹ nghệ thuật quốc gia chưa thành lập, Học viện Nghệ thuật Tây Nhân chưa ra đời, chính sách tái sử dụng không gian rác của Bộ Văn hóa chưa được áp dụng. Nó vận hành khoảng bảy năm, cho đến khi tắt đèn vào năm 1999, hệ thống thần kỵ của nghệ thuật hiện đại Đài Loan đang chính thức bắt đầu phát triển — nó chạy trước mọi cơ cấu hỗ trợ, đợi hỗ trợ đến cuối cùng, các không gian tự do này bị xóa bỏ.

閱讀全文