Huyện Bành Hồ: Hai lần từ chối sòng bạc, sự lựa chọn của đảo Cúc không phải là nghèo khó
Tóm tắt 30 giây: Cuộc trưng cầu dân ý về cờ bạc đầu tiên ở Bành Hồ diễn ra vào ngày 26 tháng 9 năm 2009 với tỷ lệ phản đối là 56,44%, nhiều hơn 3.962 phiếu bầu, đây là cuộc trưng cầu dân ý địa phương về cờ bạc lần đầu tiên trong lịch sử quốc gia. Bảy năm sau, vào ngày 15 tháng 10 năm 2016, người dân lại bỏ phiếu một lần nữa với tỷ lệ phản đối là 81,07%, cao hơn 25 điểm phần trăm so với lần đầu. Trong bảy năm đó, không có sự kiện nào khiến Bành Hồ đột nhiên trở nên giàu có. Là một đảo xa xôi chỉ có lượng mưa khoảng 1.000 mm, với 108.000 hộ khẩu nhưng dân thường trú chỉ khoảng 80.000 người, đứng thứ hai từ cuối về số lượng hộ khẩu trong toàn quốc, nơi này đã bỏ phiếu phủ quyết sòng bạc du lịch hai lần. Bài viết này muốn nói rằng: đối tượng mà họ nói KHÔNG không phải là sòng bạc, mà là quyền lựa chọn "Bành Hồ sẽ trở thành gì".
Vào lúc bốn giờ sáng, phố Trung Tâm Mã Công vắng bóng người.
Phố Trung Tâm là một trong những con phố của người Hán cổ nhất còn tồn tại ở Đài Loan1. "Giếng Tứ Nhãn" ở phía Bắc được truyền thuyết kể lại là giếng nước chung của cư dân từ thời Minh, hiện là di tích cấp huyện2. Đi thêm hai trăm mét về phía Nam là Miếu Bà Thiên Hậu. Trong quá trình trùng tu vào năm thứ 8 của Đại Chính (1919), các vị sư đã khai quật được một tấm bia đá granite với chín chữ: "Thẩm Hữu Dung dụ thoái Hồng Mao phiên Vi Mã Lang đẳng"3. Tấm bia này có niên đại là vạn lịch thứ 32, tức năm 1604.
Vào lúc bốn giờ sáng, cổng miếu đã đóng, tấm bia được trưng bày trong tủ kính tại Bảo tàng Văn vật Thanh Phong Các. Người dân Bành Hồ đang ngủ. Khách du lịch sẽ chỉ đến vào chuyến bay bảy giờ rưỡi sáng hôm sau. Gió mùa Đông Bắc từ phía Tây Bắc thổi qua những bức tường đá咾咕 của khu phố cổ, lùa vào các con hẻm. Hai phần ba thời gian trong năm, Bành Hồ đều như thế.
Quần đảo rộng 141 km vuông này là nơi đầu tiên được các cường quốc châu Âu chú ý trong bốn trăm năm lịch sử Đài Loan. Người Bồ Đào Nha đã gọi nó là Pescadores (quần đảo ngư dân) vào thế kỷ 16. Người Hà Lan đến lần đầu vào năm 1604 và lần thứ hai vào năm 1622. Người Pháp đã đến vào năm 1885. Người Nhật đổ bộ từ đây vào năm 1895 để tiếp nhận toàn bộ Đài Loan. Mỗi lần, Bành Hồ đều là cửa ngõ. Đảo chính bản Đài Loan luôn là nơi đến sau.
1604 Tấm bia: Thẩm Hữu Dung cáo lui Vi Ma Lang
![]()
Đền Thiên Hậu, 2014. Ảnh: Outlookxp qua Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.
Thời gian xây dựng đền Thiên Hậu còn nhiều tranh cãi. Trang web Văn sử học Bành Hồ penghu.info tổng hợp như sau: "Thời điểm sáng tạo chưa bao giờ có kết luận dứt khoát. Tuy nhiên, điều chắc chắn là nó đã tồn tại vào năm Minh Vạn Lịch thứ 32 (1604)."4 Giới học thuật đưa ra năm 1563, 1592, 1597, 1604 và 1622. Chỉ có năm 1604 là có vật chứng cụ thể, đó chính là tấm bia Thẩm Hữu Dung.
Điều gì đã xảy ra vào năm 1604?
Năm đó, Tư lệnh Công ty Đông Ấn Hà Lan, Vi Ma Lang (Wybrand van Warwijck), dẫn hai chiếc thuyền tiến vào Bành Hồ và cử người đến Phúc Kiến để kêu gọi giao thương. Triều đình nhà Minh phái Đô sứ Thẩm Hữu Dung cùng năm mươi chiếc chiến thuyền đến đàm phán. Sau khi đánh giá triển vọng thương mại và sức mạnh quân sự, Vi Ma Lang đã rút khỏi Bành Hồ vào ngày 15 tháng 12 năm 16045. Không có chiến tranh nào xảy ra. Một tấm bia đá ghi lại sự kiện này, được quan viên nhà Minh thời đó khắc, và được khai quật từ dưới móng đền sau 315 năm. Vào tháng 3 năm 2022, Bộ Văn hóa đã xếp tấm bia này vào danh sách quốc bảo6.
📝 Ghi chú của người biên tập: Các giáo trình trung học khi giới thiệu lịch sử sơ khai của Đài Loan thường bắt đầu từ việc người Hà Lan xây dựng Thành Nhiệt Lan Xa ở Đài Nam năm 1624. Nhưng năm 1624 là "Kế hoạch B" của người Hà Lan: ban đầu họ nhắm đến Bành Hồ, và khi lần thứ hai đến vào năm 1622, họ đã xây một tòa lâu đài tại Phong Quỹ Vĩ, gọi là "Lâu đài Hà Lan Phong Quỹ Vĩ Bành Hồ" (nay là Sơn Đầu Mã Công ở Phong Quỹ Vĩ, di tích vẫn còn). Việc triều đình nhà Minh tăng cường quân đến Bành Hồ vào năm 1624 buộc người Hà Lan phải rút về Đài Nam. Thời kỳ Hà Lan tại đảo chính Đài Loan chỉ bắt đầu sau khi Bành Hồ đã đuổi họ đi. Tấm bia Thẩm Hữu Dung năm 1604 là ghi chép của vòng giao tranh đầu tiên kéo dài suốt 20 năm này. Trong mắt người Hà Lan, Bành Hồ là "hòn đảo chúng ta muốn chiếm", còn đảo chính Đài Loan là "nơi mà Bành Hồ không thể chiếm được nên phải đến".
Tấm bia được khai quật vào năm 1919. Người Nhật đã cai trị Đài Loan được 24 năm. Năm 1920, trong cuộc cải cách thể chế địa phương của Đại Chính thứ 9, "Đền Mụ" (媽宮) được đổi tên thành Mã Công và sử dụng đến nay. Hai chữ "Mã Công" là cách viết tắt của người Nhật đối với "Đền Mụ"7. Cùng một ngôi đền đã thay ba cái tên trong ba trăm năm: Đền Mụ $\rightarrow$ Thiên Phi Cung $\rightarrow$ Thiên Hậu Cung. Tấm bia được chôn dưới móng đền ngay khi đền được xây dựng, và chỉ được tìm thấy vào năm 1919.
Nhà bằng đá bazan, Hải Đăng của đá bazan
![]()
Trụ thạch bazan đảo Đồng Bàn, 12-07-2008. Ảnh: Carrie Kellenberger / globetrotter qua Wikimedia Commons, CC BY 2.0.
Cục Văn hóa huyện Bành Hồ đã thực hiện một bộ giáo trình trực tuyến mang tên "Kỳ quan thế giới: Đá bazan của Bành Hồ". Đoạn đầu tiên viết rằng: "Khoảng 17,40 đến 8,20 triệu năm trước, qua nhiều lần phun trào không liên tục, dung nham phun ra từ các khe nứt trên mặt đất" 8.
Đá bazan cổ nhất nằm ở đảo Vọng An, được phun trào cách đây khoảng 17,40 triệu năm. Loại trẻ nhất là ở đảo Đông Thư Bình, cách đây 8,20 triệu năm. Trong chín triệu năm xen kẽ, các khe nứt dưới đáy biển liên tục phun ra dung nham, nguội đi, co lại và rạn thành các cột kết tinh hình ngũ giác hoặc lục giác. Chính những điều này đã tạo nên chín mươi hòn đảo.
Trong số chín mươi hòn đảo, chỉ có một nơi là ngoại lệ. Trang địa chất của chính quyền huyện Bành Hồ ghi: "Địa chất quần đảo Bành Hồ là do hoạt động núi lửa trong kỷ Đệ Tứ; thành phần của nó không chỉ bao gồm đá núi lửa bazan ở Hoa Thư mà đa số là đá núi lửa bazan" 9. Hoa Thư là điểm cực Tây, địa chất là đá bazan cổ hơn, trên đảo có gần một trăm loài thực vật bản địa nên được gọi là Hoa Thư. Giữa tám mươi chín hòn đảo bằng đá đen, ẩn chứa một hòn đảo màu xám trắng cổ hơn.
Đá bazan là vật liệu xây dựng của Bành Hồ. Các khu định cư truyền thống sử dụng đá bazan trộn với đá san hô hóa (sự kết tinh của vỏ san hô) để xây tường, như khu dân cư Nhị Khảm ở huyện Tây Thư. Cổ trạch Trần gia được xếp hạng di tích cấp ba vào năm 1988 (hiện là di tích do huyện quy định), là khu bảo tồn làng truyền thống đầu tiên của Đài Loan 10. Mái nhà được đè lên những phiến đá dày, dùng để chống lại gió mùa Đông Bắc. Lượng mưa hàng năm ở Bành Hồ chỉ khoảng 1.000 mm (vùng ven biển phía Tây thấp nhất), nhưng gió rất lớn, từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm có gió mùa Đông Bắc kéo dài nửa năm, nếu ngói không được đè nặng sẽ bị thổi bay 11.
![]()
Mái nhà khu dân cư Nhị Khảm, 09-07-2011. Ảnh: Perryn1258 qua Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.
Trong tường có thứ gì đó đang lớn. "Trại canh tác" của Bành Hồ là giải pháp cho đất nông nghiệp mùa đông. Bài viết về Trại canh tác Bành Hồ trên Wikipedia ghi: "Trại canh tác Bành Hồ, còn gọi là 'trạch nội', là một loại vườn được xây bằng tường đá bốn mặt để chống lại gió mùa Đông Bắc mạnh, giúp cây trồng yếu ớt vẫn phát triển tốt trong mùa đông. ... Tường phía Bắc cao nhất, khoảng 1,6 đến 2,5 mét... Các bức tường thường được xây bằng vật liệu địa phương như đá vôi hoặc đá bazan." 12 Nhìn từ trên không, hàng trăm trại canh tác nối tiếp nhau trông giống như tổ ong. Vào mùa đông, bên ngoài là gió thổi từ eo biển Hậu Môn, còn bên trong là bông cải xanh, cải thảo, gừng và khoai lang.
Những viên đá tương tự cũng được đưa xuống biển. "Trên thế giới có chưa đến 600 bãi cá (thạch hồ), huyện Bành Hồ hiện có hơn 574 bãi cá, trong đó khu vực đảo Cát Bối có ít nhất 109 bãi, đạt mật độ cao nhất thế giới." 13 Ngư dân xếp đá bazan và rạn san hô thành các bức tường hình vòng cung ở vùng triều để khi thủy triều lên, cá bơi vào, và khi triều rút thì bị nhốt bên trong. "Phủ chí" của Thanh Khang Kỷ thứ 35 (1696) đã ghi lại các bãi cá Bành Hồ, và đến những năm 1950, sản lượng đánh bắt từ bãi cá vẫn chiếm gần tám phần trăm tổng sản lượng đánh bắt của toàn huyện 14. Ngày nay, hầu hết các bãi cá chỉ còn là cảnh quan văn hóa, nhưng dưới vách đá phía Bắc làng Đông Hồ, thị trấn Thất Mỹ, vẫn còn một bãi cá Song Tâm hoàn chỉnh nhất, được nghệ nhân Cát Bạc ở Cát Bối tái thiết vào năm 1937 15.
✦ "“Trên thế giới có chưa đến 600 bãi cá, huyện Bành Hồ hiện có hơn 574 bãi cá, trong đó khu vực đảo Cát Bối có ít nhất 109 bãi, đạt mật độ cao nhất thế giới.”" (Điểm tiềm năng di sản thế giới Đài Loan của Bộ Văn hóa [Quần thể bãi cá Bành Hồ] 13)
Bộ Văn hóa đã liệt kê cả đá bazan Bành Hồ và quần thể bãi cá Bành Hồ là các điểm tiềm năng di sản thế giới của Đài Loan. Nhưng vì Đài Loan không phải là thành viên của UNESCO, nên danh sách này chỉ được lập ra để tự xem.
![]()
Cảnh quan văn hóa bãi cá Song Tâm Thất Mỹ, 24-09-2017. Ảnh: Trương Nhã Luân qua Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.
1622 Phong Quế Vĩ, Bàn Đạp Của Người Hà Lan
Tiếp tục vòng thứ hai sau năm 1604.
Sáng ngày 1 tháng 7 năm 1622, tướng người Hà Lan Reilens cùng mười hai chiếc tàu và 1.024 binh sĩ xâm nhập Mã Cung Cảng. Trang web lịch sử chính quyền huyện Bành Hồ ghi: "Ngày 1 tháng 7 năm Thiên Khải thứ 2 (năm 1622) của Minh Hi Tông, tướng Hà Lan Reilens dẫn 12 tàu và 1024 binh sĩ xâm nhập Mã Cung Cảng" 16. Lần này người Hà Lan đã học được bài học, họ không yêu cầu thông thương. Họ trực tiếp xây dựng pháo đài tại Phong Quế Vĩ (Núi Xà Đầu ở cực nam của bán đảo Mã Công ngày nay).
Triều đình nhà Minh phản ứng chậm. Hai năm sau, vào năm 1624, Nam Cư Ích nhậm chức tuần phủ Phúc Kiến và tăng quân bao vây người Hà Lan tại Bành Hồ. Người Hà Lan không thể chống đỡ được, họ đàm phán với triều đình nhà Minh. Mục về thời kỳ Hà Lan ghi: "Người Hà Lan và Đại Minh đã đạt thỏa thuận, đồng ý phá hủy các pháo đài và ụ súng ở Phong Quế Vĩ, chuyển sang Đài Loan – nơi không thuộc bản đồ của Đại Minh; Đại Minh cũng không can thiệp vào sự chiếm đóng của người Hà Lan đối với Đài Loan. Ngày 26 tháng 8 năm 1624, quân Hà Lan rút khỏi Bành Hồ và tiến về Đài Loan" 17.
Lực lượng Hà Lan rút từ Phong Quế Vĩ (Bành Hồ) sau này đã xây dựng Thành Nhiệt Lan Xa tại An Bình, Đài Nam. Thời kỳ Hà Lan ở đảo chính Đài Loan bắt đầu từ đây.
Tiếp theo, hòn đảo này được trao đổi giữa các cường quốc châu Âu và châu Á. Năm 1683, Thi Lãng tấn công Bành Hồ, khiến Bành Hồ cùng với đảo chính Đài Loan đi vào sự cai trị của nhà Thanh; kéo dài 212 năm (1684-1895). Ngày 29 tháng 3 năm 1885, Chiến tranh Trung-Pháp lan đến Bành Hồ, và quân Pháp dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Cô Bạc (Amédée Courbet) đã tấn công chiếm đóng Bành Hồ bằng tàu chiến. Một cuộc chiến khác trên đảo chính Đài Loan vẫn đang diễn ra: cùng năm, quân Pháp cũng đổ bộ ở Keelung nhưng bị Lưu Minh Truyền và dịch bệnh đánh bật 18. Tình hình ở Bành Hồ cũng không khá hơn. Sau khi quân Pháp chiếm được Bành Hồ, bệnh tả bùng phát; bản thân Cô Bạc đã bị sốc nhiệt trong tang lễ cấp dưới vào ngày 8 tháng 6 năm 1885 và qua đời trên tàu Bayard tại Mã Cung Cảng vào ngày 11 19. Trong cùng tháng đó, Hiệp ước Trung-Pháp được ký kết tại Thiên Tân, và quân Pháp đã rút lui.
Mười năm sau, vào năm 1895, người Nhật đến. Họ đến từ đâu? Từ Bành Hồ. Trang web lịch sử chính quyền huyện Bành Hồ ghi: "Ngày 17 tháng 4 năm Giáp Thân thứ 21 (năm 1895), Lý Hồng Chương và Ito Hirobumi ký Hiệp ước Mã Quan, chính thức nhượng Đài Loan và Bành Hồ cho Nhật Bản" 20. Nhưng thực tế là quân Nhật đã chiếm đóng Bành Hồ từ ngày 23 đến 25 tháng 3, sớm hơn ba tuần so với việc ký Hiệp ước Mã Quan. Ngày 26 tháng 3 năm 1895, Nhật Bản đã thành lập "Cục Hành chính Quần đảo Bành Hồ" tại Mã Công, và Phó Đô đốc Tanaka Kōji là người đứng đầu cục này. Mãi đến khi hiệp ước được ký vào ngày 17 tháng 4, họ mới tiếp tục đổ bộ lên đảo chính Đài Loan vào ngày 17 tháng 6.
Về mặt chiến lược, logic luôn giống nhau: trước tiên chiếm Bành Hồ, sau đó tiến vào Đài Loan. Người Hà Lan đã cố gắng làm điều này vào năm 1622 nhưng không thành công. Người Nhật đã thực hiện được vào năm 1895.
Cầu vượt biển gắn kết sáu thị trấn thành một đảo Bành Hồ
![]()
Cầu vượt biển Bành Hồ bắc qua eo nước Hậu Môn, 30 tháng 6 năm 2015. Ảnh: Wing1990hk qua Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.
Chính quyền huyện Bành Hồ bắt đầu xây dựng cầu vượt biển vào năm 1965. Trang web của Khu cảnh quan quốc gia Bành Hồ ghi lại như sau: "Cầu vượt biển được khởi công vào năm 1965 và hoàn thành vào năm 1970" 21. Thế hệ thứ nhất có tổng chiều dài 2.478 mét, lúc đó là cây cầu biển sâu dài nhất Đông Nam Á.
Cây cầu nối eo nước Hậu Môn giữa hai thị trấn Bạch Sa và Tây Dữ, nơi có dòng chảy xiết và độ sâu lớn. Trước khi có cầu, người ta phải đi thuyền để đến Tây Dữ. Sau khi cây cầu được xây dựng, bốn thị trấn Mã Công, Hồ Tây, Bạch Sa và Tây Dữ đã được kết nối bằng đường bộ. Hai thị trấn còn lại (Vọng An, Thất Mỹ) vẫn nằm ở trung tâm biển phía Nam và cần đi thuyền hoặc máy bay để tiếp cận.
Vào năm 1984, cấu trúc cầu bắt đầu bị ăn mòn nghiêm trọng do nó luôn ngâm trong nước muối và gió mạnh. Thế hệ thứ hai hoàn thành vào năm 1996 với "tổng chiều dài Cầu vượt biển Bành Hồ là 2.494 mét" 22. Cây cầu có hai làn xe và mặt cầu rộng 13 mét. Trong suốt 26 năm, từ năm 1996 cho đến khi cầu Kim Môn hoàn thành vào năm 2022, nó đã là cây cầu vượt biển dài nhất Đài Loan.
✦ Ý nghĩa vật lý của cây cầu vượt biển không phải là "kết nối hai nơi", mà là "gắn kết sáu thị trấn thành một Bành Hồ".
Cái được gắn kết không chỉ là con đường. Trước năm 1970, nếu bạn hỏi người dân Bành Hồ "bạn đến từ đâu?", họ có thể trả lời "Tôi là người Tây Dữ", hoặc "Tôi là người Vọng An". Sau năm 1970, bản sắc tự nhận thức của "người Bành Hồ" mới có một cơ sở vật lý cụ thể. Các thị trấn vẫn tồn tại, nhưng con người trong các thị trấn đó cùng chia sẻ một danh tính chung.
Chuyến bay của năm 2002 tan vỡ, lễ hội pháo hoa đầu tiên vào năm 2003
Vào lúc 15 giờ 28 phút ngày 25 tháng 5 năm 2002, chuyến bay số 611 của Hàng không Trung Hoa cất cánh từ Sân bay Quốc tế Chung Chính, với điểm đến là Kai Tak ở Hồng Kông. Mười lăm phút sau, nó đã tan vỡ và rơi xuống trên không trung cách phía Đông Bắc Mã Công (Penghu) 23 hải lý, ở độ cao 34.900 feet. Tất cả 225 người đều thiệt mạng. Cuộc điều tra tai nạn cuối cùng chỉ ra sự sửa chữa không đúng cách của đuôi máy bay từ những năm 198023.
Ngành du lịch mùa hè của Mã Công đã bị ảnh hưởng nặng nề. Năm sau, Hàng không Trung Hoa tổ chức hoạt động "Vạn nghiêng ở Cúc Đảo" vào Tết Đoan Ngọ (tháng Bảy Âm lịch) để bù đắp cho ngành du lịch Mã Công. Năm 2003, chính quyền huyện Mã Công tiếp quản và tổ chức Lễ hội pháo hoa biển Mã Công lần thứ nhất. Trang Wikipedia về Lễ hội pháo hoa Mã Công: "Để bù đắp tác động du lịch do tai nạn hàng không này gây ra cho Mã Công, vào Tết Đoan Ngọ năm đó đã có hoạt động 'Vạn nghiêng ở Cúc Đảo'. Năm sau (2003), chính quyền huyện lại tổ chức Lễ hội pháo hoa biển Mã Công lần thứ nhất."24
Kể từ năm này, Mã Công đã có một sự kiện tiêu biểu của mùa hè. Lễ hội pháo hoa được tổ chức 22 lần vào năm 2019 với khoảng 420.000 lượt khách tham quan, là con số cao nhất trong lịch sử. COVID đã đưa nó về mức không, và khi khởi động lại vào năm 2022, doanh thu du lịch đã vượt quá 322 triệu Đài tệ.
Tuy nhiên, lễ hội pháo hoa có một vấn đề mang tính cấu trúc: nó chỉ được tổ chức vào mùa hè. Một phóng viên phỏng vấn các nhà kinh doanh du lịch Mã Công cho biết: "Mùa hè làm việc, mùa đông nghỉ ngơi là mô hình chung của các nhà kinh doanh du lịch Mã Công"25. Từ tháng 4 đến tháng 9 là mùa cao điểm, còn từ tháng 10 đến tháng 3 là mùa thấp điểm. Các chuyến bay vào mùa thấp điểm dễ bị hủy do gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng, và phần lớn các nhà hàng cùng nhà nghỉ đều vắng khách. Một phóng viên đã viết một câu chính xác hơn: "Cứ mỗi năm lại đổi chủ nhà nghỉ".
Người ngoài nhìn Mã Công: Mùa hè bầu trời xanh biển biếc. Người dân Mã Công nhìn Mã Công: Mùa hè là lúc làm việc, còn mùa đông mới là Mã Công đích thực. Những người trồng rau vào mùa đông vẫn đang gieo trồng. Gió mùa Đông Bắc luôn thổi trong mùa đông. Vào buổi tối mùa đông ở phố Trung Tâm Mã Công không có du khách, chỉ có người dân địa phương. Hai khái niệm thời gian của Mã Công chồng lên nhau trên diện tích 141 km vuông.
19 hòn đảo, 8 vạn người, Đông Cát đảo còn lại 20 người
Chính quyền Huyện Bành Hồ đã ủy thác cho Đại học Công nghệ Ứng dụng Cao Hùng Quốc lập thực hiện một cuộc điều tra toàn đảo vào năm 2005, xác nhận tổng số hòn đảo là 90. Trước đó, con số được sử dụng dựa trên khảo sát thời Nhật trị là 64. Sự phân bố của chín mươi hòn đảo như sau: Thị xã Mã Công có 7 đảo, Huyện Hồ Tây có 10 đảo, Huyện Bạch Sa có 37 đảo, Huyện Tây Dữ có 3 đảo, Huyện Vọng An có 32 đảo, và Huyện Thất Mỹ có 1 đảo26.
Trong số chín mươi hòn đảo đó, chỉ có 19 hòn có người sinh sống. Danh sách các đảo trong Khu cảnh quan Quốc gia Bành Hồ dành cho trẻ em bao gồm: Đảo Bành Hồ (hòn chính), Đồng Bàn đảo, Hổ Tỉnh đảo, Mục Đẩu đảo, Cát Bội đảo, Điểu đảo, Viễn Bội đảo, Bạch Sa đảo, Đại Thương đảo, Trung Đồn đảo, Ngư Ông đảo, Tiểu Môn đảo, Tướng Quân Áo đảo, Vọng An đảo, Hoa đảo, Tây Dữ Bình đảo, Đông Cát Bình đảo, và Thất Mỹ đảo27. Bảy mươi mốt hòn đảo còn lại không có người ở, tổng diện tích của chúng chỉ là 3.02 km vuông, nhỏ hơn cả một khu phố thuộc Thị xã Mã Công.
Đông Cát đảo là một ví dụ điển hình. Nó là hòn đảo lớn nhất trong số bốn đảo phía Nam. Bản ghi chép trên KKday mô tả: "Đông Cát đảo là hòn đảo lớn nhất trong tứ đảo phía Nam, thời kỳ thịnh vượng có hơn 3.000 người sinh sống và được gọi là 'Thượng Hải thu nhỏ', hiện tại chỉ còn khoảng 10 đến 20 người cư ngụ."28 Tại sao số người lại giảm từ 3.000 xuống còn 20? Trước chiến tranh, Đông Cát đảo là một trạm trung chuyển giữa Đài Loan và Hạ Môn, nơi tập trung những người đi thuyền buôn, làm thương mại và mở nhà hàng. Sau chiến tranh, sự chia cắt giữa hai bờ đã làm đứt gãy tuyến đường giao thương, khiến hòn đảo mất đi nền tảng kinh tế, và người dân dần di chuyển đi.
Vườn quốc gia Tứ đảo phía Nam Bành Hồ chính thức được công bố vào năm 2014. Mục Wikipedia ghi: "Vườn quốc gia Tứ đảo phía Nam Bành Hồ là vườn quốc gia thứ chín của Trung Hoa Dân Quốc, đồng thời là vườn quốc gia biển thứ hai trong lịch sử Đài Loan. ... Được công bố thực hiện vào ngày 8 tháng 6 năm 2014"29. Phạm vi bao gồm bốn đảo Đông Cát, Tây Cát, Đông Cát Bình và Tây Cát Bình cùng vùng biển xung quanh với diện tích 35.843,62 km vuông. Văn phòng Quản lý Vườn quốc gia Biển đặc biệt ghi nhận rằng Tây Dữ Bình đảo có "tỷ lệ bao phủ san hô trên năm mươi phần trăm, là cao nhất trong tứ đảo phía Nam"30. Khi con người đã rời đi, san hô lại phát triển trở lại.
Cấu trúc dân số của toàn bộ Huyện Bành Hồ cũng theo xu hướng này. Cuối năm 2023, dân số hộ khẩu là 108.000 người, đứng thứ hai từ cuối trong cả nước. Tuy nhiên, dân số thường trú được thống kê trong cuộc điều tra dân số năm 2020 chỉ là 82.000 người, chiếm 77% so với dân số hộ khẩu. Chỉ số già hóa khoảng 194%, với 18,97% trên 65 tuổi và chỉ 9,76% dưới 15 tuổi. Thị xã Mã Công tập trung sáu phần dân số (khoảng 64.000 người), còn Huyện Thất Mỹ chỉ có 3.937 người31.
Ngành ngư nghiệp cũng suy giảm. Thông tấn xã Trung ương đưa tin ngày 20 tháng 4 năm 2024: "Sản lượng đánh bắt giảm 3/4 trong gần 20 năm, giá trị hàng năm từ 4 tỷ Đài tệ xuống còn 2 tỷ Đài tệ"32. Nguyên nhân là do biến đổi khí hậu, khai thác quá mức và sự suy thoái môi trường sống của san hô. Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản (như cá mú, cá hồng trong lồng lưới) có giá trị hàng năm khoảng 1,53 tỷ Đài tệ, chiếm hai phần ba tổng sản lượng. Sản lượng đánh bắt gần bờ đã giảm xuống chỉ còn 730 triệu Đài tệ. Những chiếc tháp đá Bành Hồ từ những năm 1950 từng đóng góp tám phần sản lượng, nay chỉ còn chức năng cảnh quan văn hóa.
Rùa xanh ở Huyện Vọng An cũng nói lên điều tương tự. Việc thành lập "Khu bảo tồn nơi đẻ trứng rùa xanh đảo Vọng An, Huyện Bành Hồ" vào năm 1995 là khu vực sinh sản rùa xanh còn khá ổn định duy nhất của Đài Loan. Tuy nhiên, tình hình bảo tồn rất nghiêm trọng: số lượng rùa mẹ đẻ trứng đã giảm hàng năm từ mức cao nhất là 19 con, chỉ còn một con lên bờ đẻ vào năm 2014; năm 2022 tăng lên 3 con đẻ 6 ổ trứng, và tháng 5 năm 2024 có con rùa mẹ đầu tiên lên bờ33. Ba mươi năm bảo tồn, con số vẫn dao động ở mức hàng đơn vị.
81.07%: Lần thứ hai nói KHÔNG
Quay lại đầu.
Vào ngày 26 tháng 9 năm 2009, cuộc trưng cầu dân ý về cờ bạc địa phương lần đầu tiên trên toàn quốc đã được tổ chức. Đề tài: "Đảo Bành Hồ có nên thành lập khu nghỉ dưỡng du lịch kèm sòng bài không?". Kết quả:
- Đồng ý 13.397 phiếu (43,56%)
- Phản đối 17.359 phiếu (56,44%)
- Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 42,16%
- Phe phản đối dẫn trước 3.962 phiếu34
Đây là cuộc trưng cầu dân ý địa phương lần thứ hai sau khi "Luật Trưng Cầu Dân Ý" được thông qua. Thiết kế của luật ban đầu là yêu cầu phải vượt qua trưng cầu dân ý địa phương trước khi hợp pháp hóa sòng bài. Đảo Bành Hồ được chọn vì nó đáp ứng các điều kiện: đảo xa, dân số ít, định hướng du lịch và có vùng đất liền bao quanh. Các tập đoàn đã đặt cược. Thích Chiêu Huệ (một học giả Phật giáo), người triệu tập Liên minh chống cờ bạc huyện Bành Hồ, đã nói một câu sau khi kiểm phiếu được trích dẫn cho đến ngày nay: "Những con tép nhỏ đã đánh bại các tập đoàn lớn; người dân Bành Hồ đã cứu lấy Bành Hồ bằng lá phiếu của mình, và cũng cứu lấy Đài Loan"35.
Hai năm tiếp theo, ngành du lịch lại phát triển. Dữ liệu mà phóng viên theo dõi sau đó cho thấy: "Trong hai năm sau cuộc trưng cầu dân ý chống cờ bạc năm 2009, lượng khách du lịch của Bành Hồ đã tăng 15% đến năm 2011"25. Du lịch phát triển ngay cả khi không có sòng bài. Nhưng khung nhìn này quá đơn giản—người dân Bành Hồ thực tế không sống dựa trên câu chuyện "du lịch phát triển nhờ trưng cầu dân ý".
Bảy năm sau, vào ngày 15 tháng 10 năm 2016, một cuộc bỏ phiếu khác đã được tiến hành. Đề tài vẫn giống nhau, nhưng con số thì khác:
- Đồng ý 6.210 phiếu (18,93%)
- Phản đối 26.598 phiếu (81,07%)
- Chưa đến 31% các thị trấn đồng tình36
Điều gì đã xảy ra trong bảy năm qua? Không có gì đặc biệt. Không làm giàu lớn, không giải quyết được vấn đề mùa đông vắng khách, không giải quyết được vấn đề thanh niên di cư, và cũng không giải quyết được sự suy giảm của ngành ngư nghiệp. Người dân Bành Hồ đã tăng thêm 25 điểm phần trăm phiếu phản đối, thực hiện lần thứ hai nói KHÔNG.
📝 Ghi chú của biên tập viên: Câu chuyện phổ biến trên mạng là "người dân Bành Hồ không muốn sòng bài vì sợ các vấn đề an ninh trật tự". Nhưng cách nhìn này đã đảo ngược quan hệ nhân quả. Cốt lõi thực sự của việc người dân Bành Hồ phản đối cờ bạc nằm trong câu nói của Thích Chiêu Huệ năm 2009: "Người dân Bành Hồ đã cứu lấy Bành Hồ bằng lá phiếu của mình". Hàm ý ẩn sau từ "cứu" là Bành Hồ vốn dĩ sắp bị biến thành một thứ khác, và người dân Bành Hồ đã tự chọn không muốn cái thứ đó. Một nhân viên sân bay nói trong cuộc phỏng vấn với phóng viên: "Đó đều là trò chơi tiền bạc của các tập đoàn, hoàn toàn không mang lại lợi ích thực chất nào cho địa phương chúng tôi"37. Một doanh nghiệp đặc sản địa phương nói cụ thể hơn: "Sòng bài nhấn mạnh rằng ăn uống vui chơi giải trí đều gói gọn trong sòng bài. 'Khách du lịch' đến sòng bài bị nhốt trong các cơ sở và dịch vụ của sòng bài, ai còn ra đường đi dạo nữa, chúng tôi hoàn toàn không kiếm được tiền sau khi có sòng bài"38. Đối tượng mà hai lần nói KHÔNG nhắm tới không phải là sòng bài, mà là quyền lựa chọn "Bành Hồ được định nghĩa bởi ai". Khi người ngoài tự quyết định bạn nên trở thành gì, bạn nói KHÔNG. Ngay cả khi bạn không thấy con đường phía trước sẽ đi về đâu, bạn vẫn nói KHÔNG trước.
Tạp chí Thiên Hạ đã phỏng vấn một số thế hệ thứ hai của người Bành Hồ đã trở về quê hương. Họ đang làm những điều như du lịch chuyên sâu, du lịch sinh thái, và du lịch thân thiện với môi trường—sau khi từ chối hình dung về du lịch gắn liền với sòng bài, họ muốn mọc ra một cái gì đó khác vào khoảng trống đó. Câu được trích dẫn nhiều nhất là: "Theo đuổi du lịch chuyên sâu, thân thiện với môi trường mới là giá trị mà họ công nhận"39.
Trong một cuộc phỏng vấn chuyên sâu khác, Lưu Dịch Dương, đại diện thanh niên Bành Hồ, đã nói một câu gần gũi hơn với cốt lõi: "Thực ra, mỗi đứa trẻ Bành Hồ đều đang tìm kiếm một cách để trở về nhà"40. Mỗi đứa con rời Bành Hồ đến đảo chính (Đài Loan) học tập và làm việc, trong đầu chúng đều có một phiên bản về việc Bành Hồ nên phát triển như thế nào. Những người đi bỏ phiếu chính là sự tích lũy của những phiên bản đó.
Vườn rau mùa đông, gió Đông Bắc thổi bên ngoài
Quay lại khung cảnh lúc mở đầu.
Trung Tâm Mã Công vào lúc bốn giờ sáng. Giếng Tứ Nhãn có nước, mặc dù không còn là nước uống hàng ngày. Cổng chùa Thiên Hậu của Đài Thái hậu đóng kín; tấm bia Thẩm Hữu Dung năm 1604 được đặt yên trong tủ kính ở Thanh Phong Các. Gió Đông Bắc thổi từ phía Tây Bắc vào ngõ, lùa qua những bức tường xây bằng đá咾咕 và đá bazan.
Bên bờ biển của đình Quan Âm cách đó hai trăm mét, sân khấu lễ hội pháo hoa mùa hè đang đóng cửa trong mùa đông. Núi Xà Đầu ở cuối khu vực Phong Quế, cách mười hai km, nơi có lâu đài mà người Hà Lan xây dựng năm 1622, giờ chỉ còn lại di tích. Ba mươi km xa hơn là cầu vượt biển Bạch Sa không có xe cộ. Xa hơn một chút là đảo Cát Bì (Jigbei), với 109 chiếc hầm đá lộ ra hình trái tim và hình cung khi thủy triều xuống. Tiếp đó là đảo Thất Mỹ, nơi hai chiếc hầm đá hình trái tim lộ rõ trên mặt biển khi nước rút.
Xa hơn về phía Nam là quần đảo Nam Tư. Trên đảo Đông Cát Bì có từ 10 đến 20 người đang ngủ. San hô ở đảo Tây Dữ Bình vẫn đang phát triển. Trong toàn bộ phạm vi công viên quốc gia biển rộng 35.843 km² này, số người rất ít, nhưng san hô thì nhiều.
Tường đá của mỗi vườn rau đều được xây sau lâu đài Hà Lan đó. Và mỗi vườn rau cũng được sử dụng lâu hơn lâu đài Hà Lan kia.
Bên ngoài gió Đông Bắc đang thổi. Người Bành Hồ từ nhỏ đã học được điều này: bạn không thể ngăn được gió, nhưng bạn có thể quyết định trồng cây trong loại tường nào. Năm 1604, Thẩm Hữu Dung khiến người Hà Lan rút đi. Năm 1622, người Hà Lan chuyển đến Đài Nam. Năm 1885, quân đội Pháp thiệt mạng tại cảng Mã Cung. Năm 1895, người Nhật bắt đầu tiếp quản Đài Loan từ Bành Hồ. Năm 2002, chuyến bay Hoa Hàng không số 611 rơi xuống, và lễ hội pháo hoa được tổ chức vào năm 2003. Năm 2009, tỷ lệ phản đối sòng bạc là 56%, còn năm 2016 thì là 81%. Bành Hồ luôn bị người khác chọn làm cửa ngõ, bệ phóng, quân cờ, khu nghỉ dưỡng, hoặc địa điểm dự phòng cho sòng bạc. Mỗi lần Bành Hồ lên tiếng: những gì các bạn nghĩ không tính, tôi tự suy nghĩ.
Mùa đông. Trong bức tường của một vườn rau, cây bông cải xanh đang từ từ phát triển ở phía khuất gió. Bên ngoài là eo biển Hậu Môn, là đá núi lửa từ 17,4 triệu năm trước, là mười chín hòn đảo có người sinh sống và bảy mươi mốt hòn đảo không người ở, là 80 ngàn dân thường trú, và hai cuộc trưng cầu dân ý.
Từ Đài Bắc đến Phi Mã Công chỉ mất 50 phút bay. Lần tới đến Bành Hồ, đừng chỉ đến vào mùa hè. Hãy đến một lần nữa vào mùa đông để nhìn những bức tường đó. Nhìn những thứ mọc lên bên trong các bức tường.
Đọc thêm
- Văn hóa dân gian Bành Hồ — Ghi chép toàn diện về chùa Thiên Hậu, tín ngưỡng Mazu, bài ca Nhị Khảm và nghi lễ Vương thuyền.
- Đảo xa và văn hóa biển — Hệ thống văn hóa biển của các đảo ngoài khơi Đài Loan bao gồm Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, Lan Dữ và Lục Đảo.
- Đặc điểm địa lý và sự hình thành của các đảo Đài Loan — Sự khác biệt về địa chất giữa quần đảo bazan Bành Hồ và quá trình kiến tạo núi của đảo chính Đài Loan.
- Truyền thuyết Mazu và Đại Đạo Công — Nguồn gốc xuyên biển của tín ngưỡng Mazu tại nơi có chùa Thiên Hậu.
- Phân chia hành chính Đài Loan — Bối cảnh cải cách thể chế địa phương khi Miếu Bà được đổi tên thành Mã Công vào năm 1920.
- Chiến tranh Thanh Pháp — Toàn cảnh chiến trường Đài Loan và Bành Hồ trong cuộc chiếm đóng của quân Pháp năm 1885, sự cáo bệnh chết của chùa Mã Công ở cảng.
- Thời kỳ Hà Lan - Tây - Minh Trịnh — Bước ngoặt quan trọng khi người Hà Lan rút khỏi Phong Quế Vĩ ở Bành Hồ về Đại Viên, Đài Nam trong giai đoạn 1622-1624.
Nguồn hình ảnh
Bài viết này sử dụng 5 bức ảnh được cấp phép từ Wikimedia Commons:
- Hero (phần đầu): Cầu qua eo biển Hậu Môn (CC BY-SA 3.0) — Toàn cảnh Cầu vượt biển Hậu Môn, chụp bởi Wing1990hk, ngày 30 tháng 6 năm 2015.
- Cảnh §1604 Tấm bia : Miếu Thiên Hậu Bành Hồ 02 (CC BY-SA 4.0) — Trước điện Miếu Thiên Hậu Đài, chụp bởi Outlookxp.
- Cảnh §Trụ nham thạch : Đá bazan cột trên đảo Thông Tâm ở Đài Loan (CC BY 2.0) — Đá bazan cột đảo Thông Tâm, chụp bởi Carrie Kellenberger, ngày 12 tháng 7 năm 2008.
- Cảnh §Mái nhà Nhị Khảm : Mái nhà cổ làng Nhị Khảm (CC BY-SA 4.0) — Mái ngói đá của làng Nhị Khảm, chụp bởi Perryn1258, ngày 09 tháng 7 năm 2011.
- Cảnh §Song Tâm Thạch Hồ : Cảnh quan văn hóa Song Tâm Thạch Hồ Thất Mỹ (CC BY-SA 4.0) — Ảnh chụp trên không Song Tâm Thạch Hồ Thất Mỹ, chụp bởi Trương Nhã Luân, ngày 24 tháng 9 năm 2017.
Tài nguyên nghe nhìn mở rộng:
- Đài Truyền hình Công cộng 《Đảo của chúng ta》Loạt phim khu bảo tồn nham thạch Hậu Môn — Phim tài liệu địa chất về Khu bảo tồn nham thạch tự nhiên Hậu Môn năm 1992 và Khu bảo tồn nham thạch biển Hậu Môn năm 2008.
- Đài Truyền hình Công cộng 《Đảo của chúng ta》Tập phim bảo vệ rùa xanh Vọng An — Quan sát thực địa về khu vực làm tổ rùa xanh ở đảo Vọng An, thành lập năm 1995.
Tài liệu tham khảo
- Phố Trung Tâm Mã Công - Văn hóa và Du lịch Thành phố Mã Công — Phố Trung Tâm Mã Công là một trong những con phố dân cư Hán cổ nhất còn tồn tại ở Đài Loan, khu phố được hình thành vào thời Minh Thanh, phía Nam là Miếu Bà Thiên Hậu Khai Đài, phía Bắc là Giếng Tứ Nhãn.↩
- Giếng Tứ Nhãn - Cục Văn hóa Huyện Bành Hồ — Di tích cấp huyện, nằm ở phía Bắc của Phố Trung Tâm Mã Công, ban đầu là một giếng lớn, được che phủ bằng sáu khối đá granite tạo thành bốn điểm lấy nước, là giếng chung của cư dân từ thời Minh, được chỉ định là di tích vào năm 1985.↩
- Miếu Bà Thiên Hậu Bành Hồ - Wikipedia — Hồ sơ khảo cổ hoàn chỉnh ghi lại việc phát hiện bia đá 'Thẩm Hữu Dung dụ thoái Hồng Mao phiên Vi Mã Lang đẳng' từ năm thứ 32 đời Minh (1604) trong quá trình trùng tu miếu vào năm 1919 (Dàishō 8).↩
- Miếu Bà Thiên Hậu Bành Hồ - Nền tảng Dịch vụ Tri thức Bành Hồ penghu.info — Bản ghi chép hoàn chỉnh về niên đại xây dựng miếu, với các giả thuyết từ năm thứ 42 đời Minh Gia Tĩnh (1563), năm thứ 20 đời Minh Vạn Lịch (1592), năm thứ 25 đời Minh Vạn Lịch (1597), năm thứ 32 đời Minh Vạn Lịch (1604) và năm thứ 2 đời Thiên Khải (1622).↩
- Thẩm Hữu Dung - Wikipedia — Kể về sự kiện Đô ty Thẩm Hữu Dung dẫn 50 chiếc thuyền đến Bành Hồ vào năm thứ 32 đời Minh Vạn Lịch (1604) và sự rút lui của Vi Mã Lang vào ngày 15 tháng 12.↩
- Thẩm Hữu Dung dụ thoái Hồng Mao phiên Vi Mã Lang đẳng - Trang web Di sản Văn hóa Quốc gia Bộ Văn hóa — Thông báo chính thức của Bộ Văn hóa công bố bia đá là bảo vật quốc gia vào tháng 3 năm 2022, bia làm bằng đá granite, cao 200 cm, rộng 28 cm, dày 14 cm.↩
- Quá trình Lịch sử Mã Công - Thành phố Mã Công — Bản ghi chép gốc: 'Thực hiện tự trị địa phương vào năm thứ 9 đời Dàishō (1920), Bành Hồ đổi thành chế độ quận, Miếu Bà được gọi là Mã Công và duy trì đến nay. Hai chữ 'Mã Công' là cách viết tắt của người Nhật đối với 'Miếu Bà'.'.↩
- Cảnh quan Kỳ lạ Thế giới - Đá bazan Bành Hồ - Giáo trình trực tuyến Cục Văn hóa Huyện Bành Hồ — Trang web chuyên đề về đá bazan của Cục Văn hóa Huyện Bành Hồ, bản gốc: 'Khoảng 1740 đến 820 triệu năm trước, sau nhiều lần phun trào không liên tục, được phun ra từ các khe nứt trên bề mặt.'↩
- Địa chất Bành Hồ - Chính quyền Huyện Bành Hồ — Hồ sơ địa chất chính thức: 'Địa chất của quần đảo Bành Hồ là do hoạt động núi lửa thời Đệ Tứ, thành phần ngoài đá bazan thuộc loại đá lửa thì chủ yếu là đá lửa thuộc loại đá bazan.'↩
- Làng Dịch Khảm - Cục Văn hóa Huyện Bành Hồ — Hồ sơ chính thức về khu bảo tồn làng truyền thống đầu tiên ở Đài Loan, nhà cổ Trần Gia tại Dịch Khảm, Tây Tự, được chỉ định là di tích cấp ba vào năm 1988 (hiện là di tích cấp huyện).↩
- Đặc điểm Khí hậu Huyện Bành Hồ - Cơ quan Khí tượng Trung ương — Hồ sơ đặc điểm khí hậu ghi nhận lượng mưa trung bình hàng năm tại trạm Bành Hồ khoảng 1.000 mm, bằng chưa đến một nửa so với mức trung bình của đảo chính Đài Loan; đặc điểm khí hậu gió mùa Đông Bắc kéo dài sáu tháng từ tháng 10 đến tháng 3.↩
- Trang trại Bành Hồ - Wikipedia — Bản ghi chép kiến trúc hoàn chỉnh: 'Trang trại của Bành Hồ, còn gọi là 'trạch nội', là một loại ruộng canh tác tinh xảo với bốn bức tường đá để chống lại gió mùa Đông Bắc mạnh, giúp cây trồng yếu ớt vẫn có thể phát triển tốt vào mùa đông. ...Bức tường phía Bắc cao nhất, khoảng 1,6 đến 2,5 mét... Tường đá thường được xây bằng vật liệu địa phương như đá vôi hoặc đá bazan.'↩
- Tiềm năng Di sản Thế giới Đài Loan: Các bãi đá Bành Hồ - Cục Văn hóa và Tài sản Văn hóa Bộ Văn hóa — Số liệu thống kê chính thức: 'Trên toàn thế giới có chưa đến 600 bãi đá, Huyện Bành Hồ hiện có hơn 574 bãi đá, trong đó khu vực đảo Cát Bối có ít nhất 109 bãi, đạt mật độ cao nhất thế giới.'↩2
- Văn hóa bãi đá Bành Hồ - Cục Văn hóa Huyện Bành Hồ — Hồ sơ lịch sử ghi lại trong 'Tài Loan Phủ Chí' năm Khang Hi thứ 35 (1696) rằng các bãi đá Bành Hồ, và sản lượng đánh bắt cá của bãi đá vào những năm 1950 chiếm gần tám mươi phần trăm tổng giá trị sản lượng của toàn huyện.↩
- Bãi đá Song Tâm - Wikipedia — Hồ sơ hoàn chỉnh về bãi đá được tái thiết bởi thợ Bát Lạc ở làng Đông Hồ, Tây Mỹ, dưới vách đá phía Bắc biển vào năm 1937 và được chính quyền Huyện Bành Hồ đăng ký là cảnh quan văn hóa vào năm 2006.↩
- Lịch sử Huyện Bành Hồ — Chính quyền Huyện Bành Hồ — Bản ghi chép đầy đủ về cuộc xâm lược của người Hà Lan vào ngày 1 tháng 7 năm Thiên Khải thứ hai (1622), khi Trần Hà mang theo 12 chiếc thuyền và 1024 binh sĩ tấn công Cảng Mã Cung.↩
- Thời kỳ cai trị của Hà Lan tại Đài Loan — Wikipedia — Ngày rút quân chính thức vào ngày 26 tháng 8 năm 1624, khi người Hà Lan rời Bành Hồ để tiến về Đài Loan sau khi đạt thỏa thuận với nhà Minh về việc phá hủy các pháo đài và ụ súng ở Phong Quỹ Vĩ và không can thiệp vào sự chiếm đóng của Hà Lan đối với Đài Loan.↩
- Trận Keelung — Wikipedia — Dòng thời gian đầy đủ của Trận Keelung trong Chiến tranh Pháp-Trung năm 1884, khi bệnh dịch tả và sốt thương hàn bùng phát vào tháng 11 năm 1884, khiến 83 binh sĩ Pháp tử vong vào ngày 23 tháng 12, với tổng cộng hơn 700 người thiệt mạng, và sự cô lập của họ tại Bành Hồ vào năm 1885.↩
- Amédée Courbet — Wikipedia tiếng Anh — Tiểu sử quân sự về việc tướng Pháp Cô Bạc dẫn quân chiếm Bành Hồ vào ngày 29 tháng 3 năm 1885, bị sốt trong tang lễ của cấp dưới vào ngày 8 tháng 6 và tử vong vì bệnh (dịch tả) tại tàu Bayard ở Cảng Mã Cung vào ngày 11.↩
- Lịch sử Huyện Bành Hồ — Chính quyền Huyện Bành Hồ — Bản ghi chép quân sự về việc Lý Hồng Chương và Ito Hirobumi ký Hiệp ước Mã Quan vào ngày 17 tháng 4 năm 1895 (Quang Thị thứ 21), chính thức nhượng lại Đài Loan và Bành Hồ cho Nhật Bản, sau khi quân Nhật chiếm Bành Hồ từ ngày 23 đến 25 tháng 3 và thành lập 'Cơ quan Hành chính Đảo Bành Hồ' vào ngày 26 tháng 3 do Thiếu tướng Tanaka Kōjirō làm chủ nhiệm.↩
- Cầu vượt biển Bành Hồ — Văn phòng Quản lý Khu cảnh quan quốc gia Bành Hồ — Bản ghi chép lịch sử công trình chính thức về việc cầu được khởi công vào năm 1965 và hoàn thành vào năm 1970.↩
- Cầu vượt biển Bành Hồ — Văn phòng Quản lý Khu cảnh quan quốc gia Bành Hồ — Bản ghi chép kỹ thuật về việc cầu thế hệ thứ hai được mở rộng từ năm 1984 và hoàn thành vào năm 1996, với thông tin: 'Tổng chiều dài của Cầu vượt biển Bành Hồ là 2.494 mét', có hai làn xe và chiều rộng mặt cầu là 13 mét.↩
- Tai nạn máy bay Trung Hoa Hàng không số 611 — Wikipedia — Báo cáo tai nạn hoàn chỉnh cho thấy máy bay cất cánh lúc 3 giờ 28 phút chiều ngày 25 tháng 5 năm 2002, bị phân rã trên không ở độ cao 34.900 feet cách phía Đông Bắc Mã Công Bành Hồ 23 hải lý sau 15 phút, với tất cả 225 người thiệt mạng, và cuộc điều tra chỉ ra lỗi sửa chữa do va chạm đuôi máy bay từ những năm 1980.↩
- Lễ hội pháo hoa biển Bành Hồ — Wikipedia — Hồ sơ hàng năm cho thấy Trung Hoa Hàng không đã tổ chức sự kiện 'Vẻ đẹp ngàn vạn ở Đảo Cúc' vào Tết Thất Tịch cùng năm để bù đắp tác động du lịch của tai nạn, và chính quyền huyện đã tổ chức Lễ hội pháo hoa biển Bành Hồ lần thứ nhất vào năm 2003 (năm sau), với số lượt khách du lịch khoảng 420.000 trong 22 sự kiện vào năm 2019 và doanh thu trên 322 triệu Đài tệ trong năm 2022.↩
- Nỗi buồn mới của thanh niên Đảo Cúc sau trưng cầu dân ý cờ bạc — Tác giả báo chí — Nguồn đầy đủ của ba trích dẫn quan trọng: 'Mùa hè làm, mùa đông nghỉ là mô hình chung của các nhà kinh doanh du lịch Bành Hồ', 'Mỗi năm lại thay đổi chủ nhà nghỉ khác', và 'Trong hai năm sau trưng cầu dân ý phản đối cờ bạc vào năm 2009, số lượng khách du lịch ở Bành Hồ đã tăng 15% đến năm 2011'.↩2
- Tổng cộng chín mươi đảo trong phạm vi Huyện Bành Hồ — Đại Kỷ Nguyên — Kết quả khảo sát số lượng đảo do chính quyền huyện Bành Hồ ủy thác cho Đại học Khoa học ứng dụng Cao Khương vào năm 2005, với sự phân bố cụ thể là Mã Công thành phố 7 + Hồ Tây hương 10 + Bạch Sa hương 37 + Tây Dữ hương 3 + Vọng An hương 32 + Thất Mỹ hương 1 = tổng cộng 90 đảo.↩
- Phân bố các đảo Bành Hồ — Phiên bản trẻ em của Văn phòng Quản lý Khu cảnh quan quốc gia Bành Hồ — Danh sách đầy đủ 19 hòn đảo có người sinh sống: Đảo Bành Hồ chính, Đảo Thũng Bàn, Đảo Hổ Tỉnh, Đảo Mục Đẩu, Đảo Cát Bội, Đảo Điểu, Đảo Viễn Bối, Đảo Bạch Sa, Đảo Đại Thương, Đảo Trung Đồn, Đảo Ngư Ông, Đảo Tiểu Môn, Đảo Tướng Quân Ngao, Đảo Vọng An, Đảo Hoa, Đảo Tây Dữ Bình, Đảo Đông Dữ Bình, Đảo Đông Cát, và Đảo Thất Mỹ.↩
- Đông Cát, một 'Thượng Hải thu nhỏ' của bốn đảo phía Nam Bành Hồ — Blog KKday — Bản ghi chép về sự thay đổi dân số: 'Đông Cát là hòn đảo lớn nhất trong bốn đảo phía Nam, vào thời kỳ thịnh vượng có hơn 3.000 người và được gọi là 'Thượng Hải thu nhỏ', hiện chỉ còn khoảng 10-20 người sinh sống'.↩
- Vườn quốc gia Bốn đảo phía Nam Bành Hồ — Wikipedia — Bản ghi chép chính thức về Vườn quốc gia này, là vườn quốc gia thứ chín của Trung Hoa Dân Quốc và cũng là vườn quốc gia kiểu biển thứ hai trong lịch sử Đài Loan. ... Được công bố chính thức vào ngày 8 tháng 6 năm 2014, với diện tích biển 35.473,33 km² và đất liền 370,29 km², tổng cộng 35.843,62 km².↩
- Hệ sinh thái san hô Đảo Tây Dữ Bình — Văn phòng Quản lý Vườn quốc gia biển — Bản ghi chép chính thức của vườn quốc gia về việc 'Tỷ lệ che phủ san hô ở Đảo Tây Dữ Bình đạt hơn năm mươi phần trăm, là cao nhất trong bốn đảo phía Nam, với sự phát triển dày đặc của các loại san hô dạng phân nhánh hoặc dạng bàn trên đáy biển, có giá trị bảo tồn rất cao'.↩
- Thống kê dân số huyện Bành Hồ — Văn phòng Dân chính huyện Bành Hồ — Số hộ dân cuối năm 2023 là 108.000 người (thứ hai từ cuối toàn quốc); dân số thường trú trong điều tra dân số năm 2020 khoảng 82.000 người (77% số hộ); chỉ số già hóa là 194%; thành phố Mã Công khoảng 64.000 người, thị trấn Thất Mỹ 3.937 người; thống kê chính thức.↩
- Sự suy thoái của ngành ngư nghiệp Bành Hồ trong 20 năm — Thông tấn xã Trung ương — Bản gốc được báo cáo vào ngày 20 tháng 4 năm 2024: 'Trong gần 20 năm, sản lượng đánh bắt đã giảm 3/4, giá trị hàng năm từ 400 triệu Đài tệ xuống còn 200 triệu Đài tệ', dữ liệu chuyển đổi cơ cấu với giá trị nuôi trồng thủy sản là 153 triệu và đánh bắt ven biển là 73 triệu.↩
- Khu bảo tồn nơi đẻ trứng của rùa xanh ở đảo Vọng An — Khu thắng cảnh quốc gia Bành Hồ — Được thành lập vào ngày 17 tháng 1 năm 1995, diện tích 23,3 km vuông; mùa sinh sản từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm; số lượng rùa mẹ đã giảm từ mức cao nhất là 19 con xuống chỉ còn 1 con vào năm 2014, và hồi phục với 3 con đẻ 6 ổ vào năm 2022; tình trạng bảo tồn khi con cái đầu tiên lên bờ vào tháng 5 năm 2024.↩
- Trưng cầu dân ý về cờ bạc ở Bành Hồ — Wikipedia — Số phiếu bầu đầy đủ của cuộc trưng cầu dân ý lần thứ nhất vào ngày 26 tháng 9 năm 2009: Đồng ý 13.397 (43,56%), Không đồng ý 17.359 (56,44%), số phiếu hợp lệ 30.756 (99,04%), tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu 42,16%, phe không đồng ý dẫn trước 3.962 phiếu; tài liệu bầu cử.↩
- Người kêu gọi Liên minh phản đối cờ bạc Thích Chiêu Huệ — Mục trưng cầu dân ý cờ bạc năm 2009 trên Wikipedia — Bản gốc: 'Những con tép nhỏ đã đánh bại các tập đoàn lớn, người Bành Hồ đã cứu Bành Hồ bằng lá phiếu của mình và cũng cứu Đài Loan', ghi chép lời nói của Thích Chiêu Huệ, người kêu gọi Liên minh phản đối cờ bạc sau khi kiểm phiếu.↩
- Trưng cầu dân ý về cờ bạc ở Bành Hồ năm 2016 — Wikipedia — Số phiếu bầu đầy đủ của cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai vào ngày 15 tháng 10 năm 2016: Đồng ý 6.210 (18,93%), Không đồng ý 26.598 (81,07%), số phiếu hợp lệ 32.808; mức tán thành ở mỗi thị trấn đều dưới 31%, với thị trấn Bạch Sa có tỷ lệ tán thành cao nhất là 30,70%; tài liệu bầu cử.↩
- Lời nói phản đối của nhân viên sân bay Bành Hồ — Phóng viên — Bản gốc: 'Đó đều là trò chơi tiền bạc do các tập đoàn chơi, hoàn toàn không mang lại lợi ích thực chất cho người dân địa phương chúng tôi', ghi chép cuộc phỏng vấn nhân viên sân bay.↩
- Lời nói phản đối của doanh nghiệp đặc sản địa phương Bành Hồ — Phóng viên — Bản gốc: 'Sòng bạc nhấn mạnh rằng tất cả các hoạt động ăn uống và giải trí đều diễn ra trong sòng bạc, những 'khách du lịch' đến sòng bạc bị nhốt trong cơ sở vật chất và dịch vụ của sòng bạc, ai còn đi dạo trên phố, chúng tôi hoàn toàn không kiếm được tiền sau khi có sòng bạc', ghi chép cuộc phỏng vấn doanh nghiệp địa phương.↩
- Kết quả trưng cầu dân ý được công bố: Tại sao 80% người Bành Hồ kiên quyết phản đối cờ bạc — Tạp chí Thiên Hạ — Bản gốc: 'Theo họ, giá trị mà họ công nhận là theo đuổi du lịch chuyên sâu và môi trường thân thiện', ghi chép về giá trị cốt lõi của thế hệ trẻ trở về Bành Hồ.↩
- Lưu Dịch Dương, phe thanh niên Bành Hồ — Phóng viên — Bản gốc: 'Thực ra, mỗi đứa trẻ Bành Hồ đều đang tìm kiếm một cách để trở về nhà', lời nói nguyên văn của Lưu Dịch Dương, thành viên phe thanh niên Bành Hồ.↩