Kim Môn: 56 giờ năm 1949 đã định mệnh 75 năm số phận của Kim Môn

Kim Môn cách điểm gần nhất của Hạ Môn là 1,8 km, cách Đài Bắc 358 km. Năm 1387, Giang Hạ Hầu Chu Đức Hưng xây dựng Kim Môn sở thành với ý nghĩa "cố nhược kim thang, hùng trấn hải môn". Ngày 25 tháng 10 năm 1949, lúc 2 giờ sáng, 9.086 quân Cộng sản thuộc 3 trung đoàn đổ bộ lên bãi biển Cổ Ninh Đầu, Quân Quốc phòng chiến đấu 56 giờ đánh lui. Từ 17 giờ 30 ngày 23 tháng 8 năm 1958 trong 44 ngày, 474.910 phát pháo rơi xuống hòn đảo 151 km², sau đó "đánh ngày lẻ, nghỉ ngày chẵn" tiếp tục kéo dài 21 năm. Hôm nay 145.000 người đăng ký hộ tịch tại Kim Môn, số thuyền từ bến Thủy Đầu đi Hạ Môn lúc 4 giờ sáng nhiều hơn cả máy bay bay đến Đài Bắc. Cháu chắt của Diệp Hoa Thành đã chờ 67 năm để có được một lời xin lỗi.

🔍 Tóm tắt 30 giây: Kim Môn cách điểm gần nhất của Hạ Môn khoảng 1,8 km, cách Đài Bắc 358 km — Chiến tranh Lạnh đã đặt một hạt thị vào vị trí địa lý mà lẽ ra nó không nên ở đó. Năm 1387, Chu Đức Hưng xây dựng Kim Môn sở thành, lấy tám chữ "cố nhược kim thang, hùng trấn hải môn" làm tên. Ngày 25 tháng 10 năm 1949 lúc 2 giờ sáng, 9.086 quân Cộng sản thuộc 3 trung đoàn đổ bộ lên bãi biển Cổ Ninh Đầu, Quân Quốc phòng chiến đấu 56 giờ đánh lui; nếu 56 giờ này không được giữ vững, thì ngày nay sẽ không có từ "hai bờ eo biển". Từ 17 giờ 30 ngày 23 tháng 8 năm 1958 trong 44 ngày, 474.910 phát pháo rơi xuống hòn đảo 151 km², ba phó tư lệnh hy sinh cùng một buổi chiều tại chỉ huy sở Thái Vũ Sơn; sau đó "đánh ngày lẻ, nghỉ ngày chẵn" tiếp tục kéo dài 21 năm đến ngày 1 tháng 1 năm 1979 khi Trung-Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao thì mới dừng. Từ năm 1956 đến 1992, chính trị quân sự chiến địa kéo dài 36 năm, lệnh giới nghiêm lúc 10 giờ tối (Ma Tổ là 9 giờ), đăng ký máy thu thanh, cấm thả vật nổi ven biển. Hôm nay 145.000 người đăng ký hộ tịch, số thuyền từ bến Thủy Đầu đi Hạ Môn lúc 4 giờ sáng nhiều hơn cả máy bay bay đến Tùng Sơn. Cháu chắt của Diệp Hoa Thành đã chờ 67 năm để có được một lời xin lỗi.

Cảnh quan Kim Môn ghép từ các hình ảnh bao gồm nhà cổ, lâu Cúc Quang, pháo đài chiến địa, tượng Phong Sư Gia, núi Thái Vũ. Sleepingstar tổng hợp 2012-2015.
Hình ảnh:Sleepingstar · CC BY-SA 4.0 · Nguồn gốc

Nhìn từ Kim Môn sang Hạ Môn là eo biển rộng 1,8 km

Nếu bạn đứng ở cực bắc của Đại Đản Đảo Kim Môn, nhìn về phía bắc, những tòa nhà cao tầng của khu vực đô thị Hạ Môn sẽ hiện lên trực tiếp trên đường chân trời.

Điểm gần nhất của Kim Môn với đại lục là Giác Đảo, thuộc khu Đồng An, thành phố Hạ Môn, khoảng cách đường thẳng khoảng 1,8 km1. Nhìn từ khoảng cách này ngược lại, Kim Môn cách Đài Bắc 358 km — xa hơn khoảng cách từ Kim Môn đến Hạ Môn gần 200 lần. Nếu bạn đi thuyền nhanh từ bến Thủy Đầu Kim Môn, 45 phút sẽ đến bến Ngũ Thông Hạ Môn; nếu bay đến Tùng Sơn, thời gian bay cộng với việc di chuyển đến sân bay, làm thủ tục, lấy hành lý, cả buổi sáng sẽ trôi qua2.

Sự thật địa lý của Kim Môn là: gần đại lục đến vậy, nhưng không phải là hạt thị của đại lục; xa Đài Bắc đến vậy, nhưng lại là hạt thị thuộc quyền quản lý của Đài Bắc.

Tên hành chính đầy đủ của hạt thị này là "Hạt thị Kim Môn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa Dân Quốc". Nó không thuộc tỉnh Đài Loan, mà cùng với Hạt thị Liên Giang (Ma Tổ) thuộc tỉnh Phúc Kiến. Tỉnh này bắt đầu bị hư hóa từ năm 1996, tinh giản nghiệp vụ năm 1998, chính thức phi nhiệm vụ hóa năm 2019, nhưng trên giấy tờ tùy thân, trong hệ thống hộ chính, người dân Kim Môn cho đến nay vẫn là người của "Hạt thị Kim Môn, tỉnh Phúc Kiến"3.

Diện tích đảo chính Kim Môn là 134 km², cộng với Liệt Đảo (Tiểu Kim Môn), Đại Đản, Nhị Đản, Ô Khâu và các đảo khác tổng cộng 151,6 km², toàn hạt thị chia thành 6 hương trấn — Kim Thành (trú sở hạt thị), Kim Hồ, Kim Sa, Kim Ninh là 4 trấn/hương nằm trên đảo chính, Liệt Đảo hương là Tiểu Kim Môn, Ô Khâu hương là một kỳ tích hành chính, phần sau sẽ bàn4. Địa chất chủ yếu là đá granite, núi Thái Vũ là sống chính của đảo chính, độ cao chỉ 253 mét, nhưng ngọn núi thấp này đã chịu được trận mưa pháo kích 44 ngày năm 1958.

Để hiểu Kim Môn, trước tiên phải bỏ đi trực giác "địa lý quyết định quy thuộc". Kim Môn là hạt thị của Đài Loan, nhưng Kim Môn chưa bao giờ là địa lý của Đài Loan.

Lâu Cúc Quang, phía ngoài Bắc môn trấn Kim Thành, kiến trúc mô phỏng cung điện năm 1952. Từng là biểu tượng giáo dục tinh thần quân đội

2 giờ sáng, 56 giờ trên bãi biển Cổ Ninh Đầu

Ngày 25 tháng 10 năm 1949 lúc 2 giờ sáng, quân Cộng sản bắt đầu đổ bộ.

Mùa hè năm đó, cục diện nội chiến Quốc-Cộng đã định đoạt, Quân Quốc phòng liên tiếp thất thủ trên đại lục, lực lượng chủ lực rút về Đài Loan. Tháng 5 cùng năm, Kim Môn do Quân Quốc phòng tiếp quản, do Thang Ân Bá chỉ huy. Tháng 10, chiến dịch Hạ Môn, quân Cộng sản vừa đại thắng, khả năng vượt biển được kiểm chứng, khí thế tăng cao. Quân đoàn 28 được lệnh vượt biển tấn công Kim Môn.

Đêm đó, 3 trung đoàn quân Cộng sản: Trung đoàn 244 sư đoàn 82 quân đoàn 28, Trung đoàn 251 sư đoàn 84, Trung đoàn 253 sư đoàn 85: xuất phát từ Hạ Môn, đổ bộ lên bãi biển phía bắc thôn Cổ Ninh Đầu và khu vực Lâm Thôn. Tổng lực lượng đổ bộ đợt đầu tiên khoảng 9.086 người5. ⚠️ Con số này là ghi chép trong chiến sử Quân Quốc phòng và các tài liệu lịch sử chủ lưu hai bờ. Sau khi đổ bộ, do hải tượng và phong tỏa của Quân Quốc phòng, các đợt sau không thể tiếp tục đổ bộ, một số tài liệu ước tính nếu tính cả lực lượng chưa lên bờ trên biển, tổng lực lượng tham chiến có thể cao hơn.

Điểm then chốt của trận chiến xảy ra lúc bình minh. Sau khi đổ bộ, quân Cộng sản chia ba đường tiến về trấn Kim Thành, chiến đấu ban đêm của Quân Quốc phòng一度 cực kỳ nguy kịch. Xe tăng M5A1 đã thay đổi cục diện. Quân Quốc phòng khi đó tại Kim Môn chỉ có 3 xe tăng nhẹ viện trợ Mỹ M5A1 (số hiệu 64, 65, 66), trong đó xe số 66 trước trận chiến bị hỏng tại bãi biển Cổ Ninh Đầu, ngược lại trở thành điểm hỏa lực sớm nhất trên bãi biển6. Quân Cộng sản dùng bộ binh vượt biển, không có vũ khí chống tăng nào, 3 chiếc xe tăng trên bãi biển cát này trở thành nhân vật chính trong ký ức dân gian "xe tăng cứu Kim Môn".

Đến ngày 26 tháng 10, Quân Quốc phòng hoàn thành bao vây, quân Cộng sản bị nén về bãi biển phía bắc Cổ Ninh Đầu. Sáng sớm ngày 27, tàn quân Cộng sản cố gắng vượt biển rút lui, bị Quân Quốc phòng tiêu diệt trên bãi cạn. Từ 2 giờ sáng đến sáng sớm ngày 27, đúng 56 giờ7. Chiến sử Quân Quốc phòng ghi chép: tiêu diệt và bắt giữ tổng cộng hơn 15.000 người8. ⚠️ Con số này nếu chỉ tính đợt đổ bộ đầu tiên 9.086 người, tiêu diệt và bắt giữ vượt quá số lượng đổ bộ là mâu thuẫn logic, một số giải thích cho rằng bao gồm tiêu diệt trên biển, thương vong và bắt giữ tính chéo. Bài viết này lấy khung chiến sử Quân Quốc phòng để trình bày, ghi lại phép toán chưa được giải đáp này.

📝 Ghi chú của người bảo tàng: Tại lễ kỷ niệm 75 năm Trận Cổ Ninh Đầu năm 2024, huyện trưởng Kim Môn Trần Phúc Hải trong bài phát biểu có câu quan phương "ghi nhớ lịch sử, trân trọng hòa bình, bảo vệ chủ quyền" dễ bị nghe như văn bản hành chính thông thường9. Nhưng vị trí lịch sử thực sự của trận chiến này không nằm trong lời nói hoa mỹ. Mùa hè thu năm 1949, quân Cộng sản đã "giải phóng" phần lớn đất đai đại lục; nếu Kim Môn thất thủ, bàn đạp từ Hạ Môn sang eo biển Đài Loan sẽ mở ra, việc phòng thủ đảo chính Đài Loan sẽ khó khăn hơn nhiều. Cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra năm 1950, Đệ Thất hạm đội Mỹ hiệp phòng eo biển Đài Loan, tuyến phòng thủ eo biển mới bị cục diện quốc tế khóa chặt, nhưng Cổ Ninh Đầu năm 1949 đã tiên bước đặt cục diện phân trị lên địa lý. 56 giờ này không phải là độ dài thời gian của một chiến thắng, mà là điểm khởi đầu của 75 năm phân trị hai bờ. Nếu quân Cộng sản đổ bộ thành công, ngày nay sẽ không có chính phủ "Trung Hoa Dân Quốc" đang vận hành, sẽ không có danh từ chuyên môn "quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan", sẽ không có file .md này mà bạn đang đọc.

17 giờ 30, ba phó tư lệnh hy sinh trên núi Thái Vũ

Ngày 23 tháng 8 năm 1958 lúc 17 giờ 30, pháo đạn rơi xuống không báo trước.

Đó là một mùa hè căng thẳng nhất của Chiến tranh Lạnh. Quan hệ Trung-Mỹ đang đấu đá, Mao Trạch Đông quyết định "pháo kích Kim Môn" để thử phản ứng của Mỹ, đồng thời tuyên bố với thế giới về tuyên bố chủ quyền đối với eo biển Đài Loan. Quân Cộng sản không bao giờ muốn đổ bộ lên Kim Môn, mà muốn dùng pháo đạn đưa vấn đề lên bàn đàm phán quốc tế.

Hai giờ đầu tiên của pháo kích, hàng vạn phát pháo đã rơi xuống đảo Kim Môn. Bộ chỉ huy phòng vệ Kim Môn của Quân Quốc phòng đặt tại chỉ huy sở núi Thái Vũ, ba phó tư lệnh: Triệu Gia Tường, Chang Kiệt, Cát Tinh Văn: cùng một buổi chiều liên tiếp hy sinh gần chỉ huy sở núi Thái Vũ10. Cát Tinh Văn là sư trưởng đã bắn phát súng đầu tiên báo hiệu chiến tranh toàn diện Trung-Nhật trong sự biến cầu Loan Kiều năm 1937. Hai mươi mốt năm sau, ông bị pháo đạn của Đảng Cộng sản Trung Quốc giết chết tại Kim Môn. Tưởng Kinh Quốc hôm đó cũng đang thị sát Kim Môn, may mắn sống sót.

Trong 44 ngày tiếp theo, tổng số pháo đạn quân Cộng sản bắn ra, theo ghi chép chiến sử Bộ Quốc phòng là 474.910 phát11. Diện tích toàn đảo Kim Môn khoảng 151,6 km², trung bình mỗi km² chịu đựng gần 3.132 phát pháo.

"Trong chiến tranh pháo kích Bát Nhị Tam, quân Cộng sản tổng cộng bắn 474.910 phát pháo vào Kim Môn."11

Ngày 7 tháng 9, đội tàu vận tải hộ tống của Mỹ đến biển ngoài Kim Môn, hỗ trợ phá vỡ phong tỏa biển của quân Cộng sản. Ngày 11 tháng 9, Ngoại trưởng Mỹ Dulles tuyên bố công khai, "xâm lược đảo ngoại xem như xâm lược đảo chính Đài Loan". Ngày 5 tháng 10, quân Cộng sản tuyên bố ngừng bắn đơn phương. Nhưng chiến sự không thực sự kết thúc: ngày 25 tháng 10 (ngày kỷ niệm 9 năm Trận Cổ Ninh Đầu), Mao Trạch Đông phát biểu "Tái cáo Đài Loan đồng bào thư" tuyên bố "ngày lẻ pháo kích, ngày chẵn ngừng bắn", đây chính là "đánh ngày lẻ, nghỉ ngày chẵn"12.

Quy tắc này duy trì 21 năm. Từ ngày 25 tháng 10 năm 1958 đến ngày 1 tháng 1 năm 1979 khi Trung-Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, Mỹ yêu cầu ngừng pháo kích làm điều kiện tiên quyết, pháo kích mới chính thức chấm dứt. Trong 21 năm, cuộc sống thường nhật của người dân Kim Môn là: mỗi tháng có 15 ngày lẻ phải躲 pháo, ngày chẵn mới có thể sinh hoạt bình thường. Pháo đạn giai đoạn sau phần lớn là pháo tuyên truyền mang theo tờ rơi, không phải để giết người, nhưng đối với cư dân, bạn không biết phát pháo tiếp theo là tờ rơi hay pháo thật, cũng không biết ngày nào sẽ lại trở về 17 giờ 30 chiều ngày 23 tháng 8.

36 năm đó, lệnh giới nghiêm Kim Môn là 10 giờ tối

Chính trị quân sự chiến địa bắt đầu thực thi từ tháng 7 năm 1956, đến ngày 7 tháng 11 năm 1992 kết thúc, đúng 36 năm13.

"Chính trị quân sự chiến địa" là một danh từ chuyên môn đáng được phân tích. Đây là thể chế quản lý dân quân thống nhất do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thực thi tại Kim Môn và Ma Tổ: huyện trưởng do quân nhân kiêm nhiệm, hành chính địa phương do Bộ chỉ huy phòng vệ thống quản, tư pháp dân gian một phần do quân pháp thay thế. Năm 1991, Điều khoản lâm thời thời động viên cán loạn bị bãi bỏ, nhưng chính trị quân sự chiến địa tại Kim Môn và Ma Tổ có cơ sở pháp lý độc lập, cần bãi bỏ riêng. Đảo chính Đài Loan giải nghiêm năm 1987, Kim Môn và Ma Tổ đến ngày 7 tháng 11 năm 1992 mới kết thúc thể chế nghiêm ngặt: muộn giải nghiêm 5 năm hơn so với đảo chính Đài Loan13.

Trong 36 năm đó, cuộc sống thường nhật của cư dân bị quy tắc nào ràng buộc?

Thời gian giới nghiêm là 10 giờ tối14. Ma Tổ là 9 giờ, sự khác biệt một giờ này phản ánh mức độ nhạy cảm quân sự của hai địa phương được ước lượng thành các con số khác nhau. Quản lý xuất nhập cảnh: người Kim Môn đi đảo chính Đài Loan phải làm "giấy phép xuất nhập cảnh", cư dân đảo chính vào Kim Môn phải có người thân bảo lãnh hoặc quân phương phê chuẩn. Ven biển không được thả bất kỳ vật nổi nào: phao bơi, xuồng cao su, bóng rổ, lốp xe đều nằm trong danh lệnh cấm, sợ cư dân dùng để bơi sang bờ đối diện. Máy thu thanh phải đăng ký, cấm nghe tần số cụ thể để phòng tuyên truyền phát thanh của quân Cộng sản. Kiến trúc một số giai đoạn không được vượt quá hai tầng. Một số giai đoạn Kim Môn lưu thông là tiền tệ quân dụng chứ không phải Tân Đài tệ.

Cơ chế dân chủ địa phương bị đóng băng: huyện trưởng, trưởng hương do quân phương chỉ định, không do bầu cử. Năm 1993, Hạt thị Kim Môn mới có nhiệm kỳ đầu tiên của huyện trưởng dân cử, năm đó muộn 43 năm so với lần bầu cử huyện trưởng thị trưởng dân cử đầu tiên trên đảo chính Đài Loan (năm 1950).

"Chúng ta ở Kim Môn, sau khi giải nghiêm 5 năm vẫn còn quản lý quân sự, cảm giác đó bạn hiểu không? Đảo chính Đài Loan giải nghiêm tháng 7, chúng ta phải đợi đến tháng 11 năm 92."14

Giai đoạn quản lý quân sự, quy mô quân đội Quân Quốc phòng đóng quân cao nhất ước tính đạt 50.000 đến 100.000 người, khi đó dân số cư dân khoảng 50.000 đến 70.000 người: số quân nhân nhiều hơn số cư dân15. Trên một hòn đảo 151 km², có một lực lượng quân đội quy mô gần một phần ba Lục quân Đài Loan hiện đại sinh sống. Mạng lưới hầm ngầm trải khắp đảo, Thái Vũ Sơn,翟 Sơn, Cửu Cung, Mã Sơn, Quỳnh Lâm: mỗi địa danh đều có công sự quân sự được đục từ bê tông và đá granite. Hầm翟 Sơn mà du khách ngày nay chèo kayak xuyên qua được đào từ năm 1961 đến 1965, chức năng chính là căn cứ cung cấp cho tàu ngầm và tàu đổ bộ nhỏ, chứa được 42 xuồng16. Hầm Cửu Cung trên Liệt Đảo (Tiểu Kim Môn) lớn hơn, dài 780 mét, đá granite đỉnh hầm dày 30 đến 50 mét, đủ sức chống lại đạn pháo trực tiếp.

Chiến tranh chưa kết thúc, nó được giấu vào trong đá granite.

Cửa vào hầm翟 Sơn, phía nam trấn Kim Thành, hoàn thành đào 1961-1965. Tổng chiều dài hầm 357 mét, rộng 11,5 mét, nguyên là căn cứ cung cấp cho tàu ngầm và tàu đổ bộ nhỏ, năm 1998 chuyển thành điểm du lịch, nay chèo kayak xuyên hầm là trải nghiệm du lịch phổ biến nhất Kim Môn. Shoestring chụp năm 2009.

Cháu chắt Diệp Hoa Thành chờ 67 năm để có một lời xin lỗi

Rượu cao lương Kim Môn là biểu tượng Kim Môn quen thuộc nhất với người Đài Loan, nhưng câu chuyện nguồn gốc của chai rượu này có hai phiên bản: phiên bản chính thức và phiên bản gia đình Diệp.

Phiên bản chính thức là: Nhà máy rượu Kim Môn do Tư lệnh phòng vệ Hồ Liên sáng lập vào đầu những năm 1950, sử dụng cao lương bản địa sản xuất rượu để tăng quân phí và ổn định dân tâm17. Phiên bản này đi vào huyện chí, đi vào lịch sử chính thức của Nhà máy rượu Kim Môn, đi vào mọi hướng dẫn du lịch.

Phiên bản gia đình Diệp là một chuyện khác. Diệp Hoa Thành là thợ nấu rượu địa phương Kim Môn, trước sau khi Quân Quốc phòng rút về Đài Loan năm 1949, ông sáng lập "Nhà máy rượu Kim Thành" (sau đổi tên "Nhà máy rượu Cửu Long Giang") tại thành Kim Môn, nghiên cứu kỹ thuật nấu rượu cao lương. Năm 1952, Hồ Liên lấy danh nghĩa quân phương cưỡng chế trưng thu nhà máy, đổi tên "Nhà máy rượu Kim Môn" (sau là Công ty TNHH Thực nghiệp Nhà máy rượu Kim Môn). Bản thân Diệp Hoa Thành tuy để lại làm cố vấn kỹ thuật, nhưng mất quyền sở hữu và danh nghĩa người sáng lập18.

"Công thức và kỹ thuật nấu rượu cao lương là do tổ phụ tôi Diệp Hoa Thành sáng lập, năm 1952 bị cưỡng chế trưng thu, đến nay Nhà máy rượu Kim Môn chưa từng chính thức thừa nhận lịch sử này. Chúng tôi không yêu cầu bồi thường, chỉ yêu cầu đối xử công bằng với lịch sử." — Cháu chắt Diệp Hoa Thành Diệp Vĩ Nhân18

Khoảng năm 2019, cháu chắt Diệp Hoa Thành là Diệp Vĩ Nhân bắt đầu công khai lên tiếng cho lịch sử này. Ông muốn một sự thừa nhận chính thức: ba chữ "Diệp Hoa Thành" được viết vào lịch sử chính thức của nhà máy, chứ không phải tiền bồi thường. Từ năm 1952 đến năm ông công khai lên tiếng, đúng 67 năm.

Nhà máy rượu Kim Môn hôm nay là doanh nghiệp công hữu thuộc hạt thị Kim Môn, doanh thu hàng năm vượt百亿 Tân Đài tệ, là một trong những nguồn tài chính chính của hạt thị Kim Môn. Mỗi chai rượu cao lương Kim Môn được bán ra, ngân sách trợ cấp bảo hiểm y tế, trợ cấp người cao tuổi, trợ cấp học sinh của hạt thị Kim Môn lại có thêm không gian ngân sách. Nhà máy rượu tư nhân bị gia đình Diệp trưng thu, đã trở thành nền tảng tài chính công cộng của hạt thị Kim Môn.

📝 Ghi chú của người bảo tàng: Kể chuyện Kim Môn thông thường viết rượu cao lương là điển hình "chuyển đổi thành công kinh tế chiến địa", Hồ Liên là anh hùng, nhà máy là thành tựu thương hiệu Đài Loan. Kể chuyện này đúng về mặt sự thật, nhưng nó đảo ngược nhân quả. Diệp Hoa Thành bị trưng thu không phải là "tiểu phẩm của câu chuyện thành công", mà là điểm khởi đầu cấu trúc của câu chuyện thành công này. Kim Môn năm 1952, cư dân hoàn toàn không có kênh khiếu nại — thời kỳ quản lý quân sự, tài sản dân gian bị quân phương tiếp thu, gia đình Diệp dù muốn phản kháng, thì tìm ai? Năm 1992 khi chính trị quân sự chiến địa bãi bỏ, Nhà máy rượu Kim Môn đã là thương hiệu Kim Môn thành hình; sau dân chủ hóa những năm 2000, hậu duệ gia đình Diệp bắt đầu công khai lên tiếng, nhưng lúc này yêu cầu nhà máy viết lại lịch sử, phải động đến cơ sở thuế của chính quyền địa phương. Bạo lực quản lý quân sự bị che lấp bởi thành công kinh tế như thế nào, đường đứt gãy cụ thể nhất của nó trong hình thái vật chất tại Kim Môn chính là chai rượu cao lương Kim Môn mà bạn đã gọi trong quán ăn nóng.

Bốn chữ năm 1387: Cố nhược kim thang, hùng trấn hải môn

Nếu Cổ Ninh Đầu chỉ là khởi đầu lịch sử cận đại Kim Môn, thì lịch sử cổ xa Kim Môn phải quay về năm Hoằng Vũ 20 nhà Minh.

Năm 1387 (Hoằng Vũ 20 nhà Minh), Giang Hạ Hầu Chu Đức Hưng được lệnh đến duyên hải Phúc Kiến xây dựng sở thành phòng hải. Ông xây dựng sở thành trên hòn đảo này, lấy ý nghĩa tám chữ "cố nhược kim thang, hùng trấn hải môn", gọi tắt là "Kim Môn"19. Trước đó, hòn đảo này gọi là "Ngô Châu" hoặc "Tiên Châu" (tài liệu Đường Ngũ Đại), sau khi nhà Minh xây sở thành mới cố định tên "Kim Môn".

Thời Đường, nơi đây là đất chăn ngựa, truyền thuyết Trần Uyên chăn ngựa tại đây. Hậu Chu Hiển Đức 6 năm (959) nhà Ngũ Đại, Tuyền Châu thiết lập Tấn Giang huyện, Kim Môn thuộc quyền quản lý. Thời Tống Nguyên, ngoại thương Tuyền Châu hưng thịnh, Kim Môn là trục chuyển vận. Nhà Nguyên đặt trường muối tại đây. Sau nhà Minh xây sở thành, di dân từ Tuyền Châu Phúc Kiến (đặc biệt là huyện Đồng An) định cư ồ ạt: đây là nguồn gốc lịch sử người Kim Môn nói tiếng Mân Nam, và giọng điệu gần với Hạ Môn.

Cuối Minh đầu Thanh, Kim Môn gặp một người tên là Trịnh Thành Công. Năm 1646 (Thuận Trị 3 nhà Thanh), Trịnh Thành Công 23 tuổi khởi binh phản Thanh phục Minh tại Kim Môn và Hạ Môn, lấy hiệu "phản Thanh phục Minh" mộ binh thệ sư20. Khu mộ di thần nhà Minh gần Minh Đức Hồ núi Nam Từ Kim Môn đến nay vẫn còn, bia trước đền Trịnh Thành Công trấn Kim Thành là một trong những hình ảnh đại diện phổ biến nhất trong kho ảnh CC BY.

Sau khi nhà Trịnh nhà Thanh đầu hàng, Kim Môn bước vào hai thế kỷ hòa bình tương đối, đại lượng kiều dân sang Nam Dương (Philippines, Malaysia, Indonesia) mưu sinh, mang của cải về xây biệt thự, hình thành cảnh quan kiến trúc "Phan Tử Lâu" độc đáo cuối Thanh đầu Minh. Thôn Sơn Hậu là đại diện được bảo tồn nguyên vẹn nhất: nằm ở trấn Kim Sa, xây dựng cuối Thanh đầu Minh (khoảng thập niên 1900-1920), tổng cộng 16 đến 18 căn nhà cổ Mân Nam (thống kê khác nhau có chút出入), do gia tộc Vương Sơn Hậu lưu lạc Nhật Bản về quê xây dựng, ngôn ngữ kiến trúc kết hợp truyền thống Mân Nam, chi tiết Nhật Bản và yếu tố trang trí Tây phương21. Năm 1979 được liệt vào di tích đầu tiên, năm 1998 tu sửa sau mở cửa.

Thôn Sơn Hậu (Làng văn hóa dân gian Sơn Hậu), trấn Kim Sa, do gia tộc Vương Sơn Hậu lưu lạc Nhật Bản về quê xây dựng, đại diện bảo tồn nguyên vẹn nhất quần thể nhà cổ Mân Nam. Shoestring chụp năm 2009.

Phố Mô Phạm trấn Kim Thành là chứng vật của trục thời gian khác. Phố cổ nhà lầu hiên chạy hai tầng xây dựng năm 1924, mặt tiền chính kết hợp ba phong cách Mân Nam, Nam Dương, Tây phương. Tên của nó đến từ lời khen ngợi của tri huyện Kim Môn khi đó rằng phố này là "mô hình xây dựng". Sự khác biệt lớn nhất giữa phố Mô Phạm và phố cổ thời Nhật trị trên đảo chính Đài Loan cùng thời kỳ: nó do kiều dân về quê xây, không phải người Nhật xây: Kim Môn chưa bao giờ bị Nhật trị trực tiếp quản lý (trừ thời kỳ chiến tranh Trung-Nhật 1937-1945 quân Nhật tạm chiếm Kim-Hạ), nên thời gian trên phố này thuộc hệ ngữ "thời gian của kiều dân", khác với "thời gian của Nhật trị".

Phố Mô Phạm trấn Kim Thành, nhà lầu hiên chạy hai tầng xây dựng năm 1924. Mặt tiền chính kết hợp ba phong cách Mân Nam, Nam Dương, Tây phương, do kiều dân về quê xây chứ không phải người Nhật. Shoestring chụp năm 2009.

Còn những tượng sư đá độc đáo ở cửa thôn: Phong Sư Gia: toàn đảo Kim Môn hơn 70 tượng (thống kê các bên từ 70 đến 90 khác nhau)22. Địa hình Kim Môn bằng phẳng, gió mùa Đông Bắc mùa đông mạnh, dân gian Mân Nam truyền thống tin rằng "sư cắn gió" có thể trấn áp phong sát, nên đặt tượng sư đá ở cửa thôn để bảo vệ. "Shisa" (シーサー) của Okinawa có chức năng tương tự, giới học giả suy đoán có thể liên quan đến ngư dân Mân Nam di cư đến Lưu Cầu thời Tống Nguyên, nhưng thuyết này vẫn có tranh cãi, không nên viết thành kết luận.

Phong Sư Gia Kim Môn, tượng sư đá đặt ở cửa thôn trấn phong sát, ghi chép từ thời Minh Thanh, thịnh hành thời Thanh. Toàn đảo hơn 70 tượng, chất liệu sa thạch hoặc granite, hình thái đa dạng. P95521708 chụp năm 2018.

Ô Khâu nói ngôn ngữ thứ ba

Nếu 6 hương trấn của Kim Môn có 5 là cư dân đảo chính Kim Môn và Liệt Đảo có thể lái xe hoặc xe máy đến, thì hương thứ 6 là kỳ tích hành chính.

Hương Ô Khâu thuộc quyền Hạt thị Kim Môn, nhưng về địa lý cách đảo chính Kim Môn hơn 170 km, nằm ở biển phía Bắc Bành Hồ, phía Nam Ma Tụ23. Từ hạt thị Kim Môn làm việc, cư dân Ô Khâu phải đi thuyền đến cảng Trung Đài hoặc cảng Kê Long đảo chính, sau đó chuyển sang Kim Môn: còn vòng hơn cả đi trực tiếp Ma Tụ. Kỳ lạ hơn là ngôn ngữ cư dân Ô Khâu nói: khác với tiếng Mân Nam Kim Môn, khác với tiếng Phúc Châu (Mân Đông) Ma Tụ, họ nói tiếng Bồ Tiên: một phương ngữ Mân phát triển ở Bồ Điền, Tiên Du (nay là thành phố Bồ Điền, Phúc Kiến), không tương thông với Mân Nam hay Mân Đông23.

Sự thật ngôn ngữ này là sự mở rộng xa nhất của biên giới "Hạt thị Kim Môn": một hạt thị dưới ba ngôn ngữ, Mân Nam đảo chính Kim Môn, Mân Nam Liệt Đảo (cùng nguồn khác giọng), Bồ Tiên Ô Khâu.

Đây cũng là điểm khởi đầu phân biệt rõ nhất giữa Kim Môn và Ma Tụ (Hạt thị Liên Giang). Hai đảo ngoại hạt thị cùng năm 1956 thực thi chính trị quân sự chiến địa, cùng năm 1992 bãi bỏ, cùng năm 2001 mở Tiểu tam thông: nhưng số phận hai hạt thị chỉ giống thể chế, cốt nhục mỗi bên mỗi lớn.

Người Kim Môn nói tiếng Mân Nam giọng Đồng An, gần với người Mân Nam đảo chính Đài Loan phía Nam, gần với giọng Hạ Môn, giao tiếp vượt biển không vấn đề24. Người Ma Tụ nói tiếng Phúc Châu Mân Đông, "đại đồng tiểu dị" với tiếng Phúc Châu thành phố Phúc Châu, hoàn toàn không tương thông với Mân Nam đảo chính Đài Loan. Sự khác biệt ngôn ngữ phản ánh nguồn gốc di dân: di dân Kim Môn chủ yếu từ Tuyền Châu Phúc Kiến (huyện Đồng An), di dân Ma Tụ chủ yếu từ Phúc Châu (huyện Trường Lạc, La Nguyên).

Cấu trúc khoảng cách cũng khác. Kim Môn gần Hạ Môn nhất 1,8 km, đối diện trực tiếp khu thương mại Hạ Môn. Ma Tụ cách Mã Vĩ Phúc Châu khoảng 50 km, không ở ngoại ô Phúc Châu. Vì vậy, mật độ sinh hoạt thường nhật người Kim Môn đi Hạ Môn làm ăn, mua đồ dùng,看病 cao hơn nhiều so với kết nối Ma Tụ với Phúc Châu.

Lịch sử chiến dịch càng bất đối xứng. Kim Môn có Cổ Ninh Đầu (1949) + Bát Nhị Tam (1958) + Đánh ngày lẻ nghỉ ngày chẵn (1958-1979) = hai trận quyết định cộng 21 năm pháo kích. Ma Tụ có chiến dịch Đông Khuyển (1954), chiến dịch Nhất Giang Sơn (1955, địa điểm ngoài Kim Môn), pháo kích lẻ tẻ, nhưng chưa từng có quyết chiến lục địa quy mô Cổ Ninh Đầu.

Quy mô dân số cũng khác một bậc. Kim Môn đăng ký hộ tịch 145.000 người, Ma Tụ chỉ 13.000 người: số người Kim Môn gấp 10 lần Ma Tụ. Kim Môn có Đại học Kim Môn (thành lập 1997, là đại học đầu tiên từ trước đến nay của Kim Môn)25, Ma Tụ không có đại học.

📝 Ghi chú của người bảo tàng: Khung "đảo ngoại hạt thị" thông thường đóng gói Kim Môn và Ma Tụ thành cùng một khái niệm — "tiền tuyến Chiến tranh Lạnh", "du lịch chiến địa", "đối峙 hai bờ". Nén này tiện trên tiêu đề truyền thông, nhưng nó viết hai hạt thị cốt nhục khác nhau thành cùng một CV. Kim Môn là Mân Nam Kim-Hạ cùng gốc, dựa vào khu thương mại Hạ Môn, có quyết chiến lục địa quy mô lớn, có quân đội quản lý quân sự quy mô trăm ngàn; Ma Tụ là hệ ngữ Mân Đông Phúc Châu, cách Phúc Châu xa, quần đảo ngư dân cô lập trên biển, quy mô quân đội quản lý quân sự năm vạn người. Hai hạt thị giống như song sinh khác trứng cùng số phận — cùng thể chế, khác cốt nhục. Nếu bạn nói "Kim Ma rút quân", "Kim Ma giải nghiêm", "Kim Ma tiểu tam thông", xin nhớ rằng số nhiều này背后 là hai hạt thị độc lập, hai ngôn ngữ độc lập, hai ký ức chiến dịch độc lập.

4 giờ sáng, thuyền từ bến Thủy Đầu đi Hạ Môn

Quay lại eo biển mở đầu.

Ngày 2 tháng 1 năm 2001, "chuyến bay thử nghiệm trực tiếp" đầu tiên từ bến Thủy Đầu Kim Môn đi bến Ngũ Thông Hạ Môn. Đây là điểm thử nghiệm sớm nhất mở "tam thông" (thông bưu, thông thương, thông hàng) hai bờ, trước tam thông đại năm 2008 là 7 năm26. Từ ngày đó đến 2024, tổng lượng hành khách tiểu tam thông khoảng 24 triệu lượt người: ⚠️ Thống kê các bên có chút出入, 24 triệu là giá trị xấp xỉ. Hành trình 45 phút, vé một chiều khoảng 600 đến 900 Tân Đài tệ (tùy hạng ghế).

Tháng 2 năm 2020, tiểu tam thông bị gián đoạn do COVID-19, tháng 2 năm 2023 khôi phục một phần (hạn chế người Đài Loan), từ 2024 dần khôi phục thông hành hai chiều26. Đối với cư dân Kim Môn, tiểu tam thông là mua sắm thường nhật chứ không phải biểu tượng chính trị: nhiều nguyên liệu tươi, đồ gia dụng Kim Môn thông qua kênh Hạ Môn đi vào. Trung tâm thương mại lớn, cơ sở y tế Hạ Môn có sức hút thực tế với cư dân Kim Môn. Nhiều cư dân Kim Môn vượt biên làm việc tại Hạ Môn, doanh nhân Đài Loan và quản lý Đài cũng dùng tiểu tam thông đi lại hai đầu.

Đây là mâu thuẫn cụ thể nhất của Kim Môn đương đại.

Thuyền nhanh từ bến Thủy Đầu đi Hạ Môn lúc 4 giờ sáng nhiều hơn cả máy bay bay đến Tùng Sơn. 45 phút đến Hạ Môn, 2 tiếng có thể đi Hạ Môn ăn trưa xong về, bao gồm thời gian giao thông. Nhưng bay Đài Bắc ít nhất 1 tiếng bay + đi về sân bay = cả buổi sáng. Mật độ sinh hoạt do địa lý quyết định, và cảm giác quy thuộc do chính trị quyết định, mỗi ngày kéo co trên hòn đảo 151 km² này.

Dân số đăng ký hộ tịch Hạt thị Kim Môn năm 2024 khoảng 145.000 người, nhưng số dân thường trú thực tế thấp hơn: nhiều người Kim Môn làm việc trên đảo chính Đài Loan, đăng ký hộ tịch Kim Môn để hưởng trợ cấp và cổ tức lợi nhuận của hạt thị (Nhà máy rượu Kim Môn hàng năm phân phối cổ tức cho cư dân đăng ký hộ tịch)27. "Có hộ khẩu Kim Môn" và "sống ở Kim Môn" là hai chuyện khác nhau, sự chênh lệch này tính toán mỗi ngày trên ngân sách hạt thị, bầu cử, trợ cấp bảo hiểm y tế.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, lễ kỷ niệm 75 năm Trận Cổ Ninh Đầu được tổ chức tại Kim Môn. Huyện trưởng Trần Phúc Hải đọc câu "trân trọng hòa bình, bảo vệ chủ quyền", tại hiện trường có di tích bãi biển quân Cộng sản đổ bộ năm đó, có hầm翟 Sơn du khách xếp hàng chèo kayak hôm nay, có thuyền nhanh Hạ Môn một giờ một chuyến từ bến Thủy Đầu, có cư dân đăng ký Kim Môn nhưng làm việc ở Đài Bắc, có cháu chắt Diệp Hoa Thành không được mời đến.

Đi một vòng Kim Môn, đừng chỉ xem hầm翟 Sơn.

Đi Bảo tàng Lịch sử Trận Cổ Ninh Đầu xem bảng thời gian 56 giờ năm 1949, xe M5A1 phục dựng trên bãi biển vẫn đỗ ở đó. Đi Bảo tàng Lịch sử Bát Nhị Tam xem con số 474.910 phát pháo được quy đổi thành 3.132 phát mỗi km² trong 44 ngày như thế nào. Đi phố Mô Phạm đi bộ qua nhà lầu kiến trúc kiều dân về quê xây năm 1924, nhớ thời gian trên phố này không phải thời gian Nhật trị. Đi thôn Sơn Hậu xem nhà cổ Mân Nam cuối Thanh đầu Minh xếp đá granite thành 16 căn nhà liên tiếp như thế nào. Đi Nhà máy rượu Kim Môn mua một chai rượu cao lương, trên chai in bốn chữ "Nhà máy rượu Kim Môn", nhưng trong lòng bạn biết còn ba chữ "Diệp Hoa Thành" chưa được in lên.

Sau đó đến bến Thủy Đầu trước 4 giờ sáng.

Nhìn những người chờ lên thuyền: có cư dân Kim Môn đi Hạ Môn chữa răng, có doanh nhân Đài đi nhà máy Hạ Môn, có du khách tò mò thử vị tiểu tam thông. Khi chuyến đầu tiên rời bến hướng Giác Đảo Hạ Môn, khoảng cách trên biển chỉ 1,8 km, nhưng dưới mặt biển 1,8 km này, là bãi biển 2 giờ sáng ngày 25 tháng 10 năm 1949, 17 giờ 30 chiều ngày 23 tháng 8 năm 1958 trên núi Thái Vũ, tiếng pháo mỗi ngày lẻ trong 21 năm đánh ngày lẻ nghỉ ngày chẵn 1958-1979, lệnh giới nghiêm 10 giờ tối mỗi đêm 36 năm chính trị quân sự chiến địa 1956-1992, nhà máy rượu Diệp Hoa Thành bị trưng thu năm 1952: số phận 75 năm chồng lên hành trình 45 phút này.

56 giờ này quyết định không chỉ Kim Môn, mà là Đài Loan.

Đọc thêm

  • Hạt thị Liên Giang — Anh em cùng series 22 hạt thị, đảo ngoại hạt thị Phúc Kiến khác. Cùng chính trị quân sự chiến địa 1956, bãi bỏ 1992, tiểu tam thông 2001, nhưng nói tiếng Phúc Châu Mân Đông, cách Phúc Châu 50 km, không có quyết chiến lục địa quy mô Cổ Ninh Đầu, cùng thể chế khác cốt nhục với Kim Môn
  • Thành phố Kê Long — Pilot series 22 hạt thị, cảng nước sâu duy nhất phía Bắc vs pháo đài phòng hải phía Nam Kim Môn, trục thời gian hai loại cảng Đài Loan
  • Hạt thị Bành Hồ — Nhóm đảo series 22 hạt thị hạt thị thứ ba, cùng đảo ngoại với Kim Môn nhưng có lịch sử Nhật trị, đối chiếu sự khác biệt Kim Môn chưa bị Nhật trị trực tiếp quản lý
  • Trịnh Thành Công — Khởi binh phản Thanh phục Minh tại Kim Môn năm 1646, quyết định xuất phát từ Kim Môn của người này sau đó thay đổi Đài Loan
  • Tưởng Trung Chính — 1958 "Vô Vong Tại Cúc" đề chữ núi Thái Vũ, người ra lệnh tử thủ Kim Môn năm 1949
  • Thời gian nghiêm ngặt — Đảo chính Đài Loan giải nghiêm 1987, Kim Môn và Ma Tụ đến 1992 mới bãi bỏ chính trị quân sự chiến địa, bài này đối chiếu xem hai phiên bản nghiêm ngặt
  • Khủng hoảng eo biển Đài Loan và phát triển quan hệ hai bờ — Bát Nhị Tam là bằng chứng vật chất cụ thể nhất của Chiến tranh Lạnh nóng, đoạn § "17 giờ 30" của bài này là mở rộng cấp hạt thị của bài này
  • Quốc phòng và hiện đại hóa quân sự Đài Loan —演变 quy mô quân đội quản lý quân sự Kim Môn 5-10 vạn người đến dưới vạn người hôm nay, đối chiếu với quỹ đạo hiện đại hóa Lục quân Quốc phòng tổng thể
  • Đặc điểm địa lý và hình thành đảo Đài Loan — Đối chiếu địa chất đá granite Kim Môn với cơ chế hình thành các đảo Đài Loan khác
  • Truyền thuyết Thiên Hậu và Đại Đạo Công — Tín ngưỡng Mân Nam Kim Môn cùng nguồn với đảo chính Đài Loan, khác với truyền thuyết linh huyệt Thiên Hậu Cung Ma Tụ

Nguồn ảnh

Bài viết sử dụng 6 hình ảnh Wikimedia Commons CC BY-SA.

Ảnh Hero (frontmatter) là "Kinmen Montage" do Sleepingstar tạo (CC BY-SA 4.0), ghép cảnh quan Kim Môn, bao gồm nhà cổ, lâu Cúc Quang, pháo đài chiến địa, tượng Phong Sư Gia, núi Thái Vũ và các hình ảnh đại diện.

5 ảnh inline:

  • § Nhìn từ Kim Môn sang Hạ Môn: Juguang Tower, Kinmen, Taiwan — Ảnh: (WT-shared) Shoestring, CC BY-SA 4.0, 2009-09. Lâu Cúc Quang phía ngoài Bắc môn trấn Kim Thành, kiến trúc mô phỏng cung điện năm 1952.
  • § 17 giờ 30 (đoạn Bát Nhị Tam): Jhaishan Tunnel, Kinmen, Taiwan — Ảnh: (WT-shared) Shoestring, CC BY-SA 4.0, 2009-09. Hầm翟 Sơn, hoàn thành đào 1961-1965.
  • § Bốn chữ năm 1387 (đoạn Thôn Sơn Hậu): The Kinmen cultural village, Kinmen, Taiwan — Ảnh: (WT-shared) Shoestring, CC BY-SA 4.0, 2009-09. Làng văn hóa dân gian Sơn Hậu.
  • § Bốn chữ năm 1387 (đoạn Phố Mô Phạm): Mo fan Street, Kinmen, Taiwan — Ảnh: (WT-shared) Shoestring, CC BY-SA 4.0, 2009-09-21. Phố Mô Phạm trấn Kim Thành, kiều dân về quê xây năm 1924.
  • § Bốn chữ năm 1387 (đoạn Phong Sư Gia): Wind Lion God in Kimmen — Ảnh: P95521708, CC BY-SA 4.0, 2018-06-06. Phong Sư Gia Kim Môn, tượng sư đá trấn phong sát cửa thôn.

Điều khoản ủy quyền: CC BY-SA 4.0.

Tài liệu tham khảo

  1. Vị trí địa lý Hạt thị Kim Môn — Hạt thị Kim Môn — Trang web chính thức và mạng thông tin phòng cứu災 Hạt thị Kim Môn ghi chép điểm gần nhất Kim Môn với đại lục là Giác Đảo, khu Đồng An, Hạ Môn, khoảng cách đường thẳng khoảng 1,8 km, cách Đài Bắc 358 km, diện tích đảo chính Kim Môn 134 km², cộng Liệt Đảo và các đảo khác tổng cộng 151,6 km² là dữ liệu địa lý chính thức. 1,8 km là giá trị trích dẫn chủ lưu của nhiều nguồn tiếng Trung, một số phiên bản ghi "khoảng 2 km" hoặc khoảng "1,8 đến 2,2 km", bài viết lấy 1,8 km thêm chữ "khoảng" để trình bày.
  2. Thông tin hành trình tiểu tam thông Kim Môn — Bộ Giao thông Trung Hoa Dân Quốc — Thông tin giao thông chính thức tuyến tiểu tam thông từ bến Thủy Đầu Kim Môn đến bến Ngũ Thông Hạ Môn hành trình khoảng 45 phút, vé một chiều khoảng 600-900 Tân Đài tệ (tùy hạng ghế và công ty tàu), mật độ chuyến cao nhất một giờ một chuyến.
  3. Tiến trình chính phủ tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa Dân Quốc — Wikipedia — Lịch sử biến đổi chính phủ tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa Dân Quốc hư hóa năm 1996, tinh giản nghiệp vụ 1998, phi nhiệm vụ hóa chính thức 2019, nghiệp vụ do Trung tâm dịch vụ liên hợp Kim Ma thuộc Hội đồng Hành chính tiếp nhận; Hạt thị Kim Môn và Hạt thị Liên Giang là hai hạt thị dưới quyền quản lý hiện hành.
  4. Phân chia hành chính Hạt thị Kim Môn — Hạt thị Kim Môn — Hạt thị Kim Môn dưới辖 6 hương trấn (trấn Kim Thành là trú sở hạt thị, trấn Kim Hồ, trấn Kim Sa, hương Kim Ninh, Liệt Đảo hương Tiểu Kim Môn, Ô Khâu hương khu vực hành chính đặc biệt), tổng diện tích 151,6 km², độ cao núi Thái Vũ 253 mét là sống chính đảo chính, địa chất chủ yếu granite là dữ liệu chính thức.
  5. Lực lượng đổ bộ quân Cộng sản Trận Cổ Ninh Đầu — Bảo tàng Lịch sử Trận Cổ Ninh Đầu Bộ Quốc phòng — Bảng展板 Bảo tàng Lịch sử Trận Cổ Ninh Đầu và ghi chép chiến sử Bộ Quốc phòng 2 giờ sáng ngày 25 tháng 10 năm 1949 quân Cộng sản Trung đoàn 244 sư đoàn 82 quân đoàn 28, Trung đoàn 251 sư đoàn 84, Trung đoàn 253 sư đoàn 85 tổng cộng 3 trung đoàn khoảng 9.086 người đổ bộ khu vực Cổ Ninh Đầu là dữ liệu lực lượng.
  6. Vai trò xe tăng M5A1 Trận Cổ Ninh Đầu — Quản lý khu công viên quốc gia Kim Môn — Quân Quốc phòng khi đó tại Kim Môn chỉ có 3 xe tăng nhẹ viện trợ Mỹ M5A1 (số hiệu 64, 65, 66), xe số 66 trước trận chiến bị hỏng tại bãi biển Cổ Ninh Đầu ngược lại trở thành điểm hỏa lực sớm nhất trên bãi biển, ghi chép chiến sử quân Cộng sản dùng bộ binh vượt biển không có vũ khí chống tăng; xe M5A1 phục dựng hiện tại bố trí ngoài Bảo tàng Lịch sử Trận Cổ Ninh Đầu.
  7. Thời gian 56 giờ Trận Cổ Ninh Đầu — Wikipedia — 2 giờ sáng ngày 25 tháng 10 năm 1949 quân Cộng sản đổ bộ, ban ngày 25 xe tăng M5A1 Mỹ tham chiến trở thành then chốt phản công, ngày 26 Quân Quốc phòng hoàn thành bao vây, sáng sớm 27 tàn quân Cộng sản bị tiêu diệt trên bãi cạn, tổng cộng 56 giờ thời gian chiến dịch.
  8. Tranh cãi số lượng tiêu diệt và bắt giữ Trận Cổ Ninh Đầu — Wikipedia — Chiến sử Quân Quốc phòng ghi "quân Cộng sản chết 9.086 người, bắt 7.364 người, tổng cộng 16.450 người"; có phiên bản khác "tiêu diệt và bắt giữ 15.953 người". Nếu chỉ tính đợt đổ bộ đầu tiên 9.086 người, tiêu diệt và bắt giữ vượt quá số lượng đổ bộ là mâu thuẫn logic, một số giải thích bao gồm tiêu diệt trên biển, thương vong và bắt giữ tính chéo; bài viết lấy khung chiến sử Quân Quốc phòng để trình bày và đánh dấu phép toán chưa giải.
  9. Lễ kỷ niệm 75 năm Trận Cổ Ninh Đầu — Thông cáo báo chí Hạt thị Kim Môn 2024-10-25 — Hạt thị Kim Môn ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại Bảo tàng Lịch sử Trận Cổ Ninh Đầu tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm, huyện trưởng Trần Phúc Hải phát biểu "ghi nhớ lịch sử, trân trọng hòa bình, bảo vệ chủ quyền" là thông cáo báo chí chính thức.
  10. Ba phó tư lệnh hy sinh ngày đầu Bát Nhị Tam — Bảo tàng Lịch sử Bát Nhị Tam Bộ Quốc phòng — Bảng展板 Bảo tàng Lịch sử Bát Nhị Tam ghi 17 giờ 30 ngày 23 tháng 8 năm 1958 quân Cộng sản bắt đầu pháo kích Kim Môn, ngày đầu pháo kích phó tư lệnh Triệu Gia Tường, Chang Kiệt, Cát Tinh Văn liên tiếp hy sinh gần chỉ huy sở núi Thái Vũ, Cát Tinh Văn là sư trưởng đã bắn phát súng đầu tiên báo hiệu chiến tranh toàn diện Trung-Nhật trong sự biến cầu Loan Kiều năm 1937 là ghi chép chiến sử.
  11. Tổng số pháo đạn Bát Nhị Tam — Chiến sử Bộ Quốc phòng — Chiến sử Bộ Quốc phòng ghi Bát Nhị Tam từ 23 tháng 8 đến 5 tháng 10 năm 1958 quân Cộng sản bắn tổng cộng 474.910 phát pháo vào Kim Môn; diện tích toàn đảo Kim Môn 151,6 km², trung bình mỗi km² chịu đựng khoảng 3.132 phát pháo (474910 ÷ 151,6 = 3132,65). Con số này là giá trị trích dẫn chủ lưu của nhiều tài liệu tiếng Trung, nguồn gốc nguyên thủy là cơ sở dữ liệu chiến sử Bộ Quốc phòng. ⚠️ Có phiên bản khác ghi "hơn 47 vạn phát", "gần 47 vạn phát" v.v. là biểu đạt xấp xỉ, bài viết lấy giá trị chính xác 474.910 phát và注明 khung xuất xứ.
  12. Đánh ngày lẻ nghỉ ngày chẵn 21 năm — Wikipedia — 25 tháng 10 năm 1958 (ngày kỷ niệm 9 năm Trận Cổ Ninh Đầu) Mao Trạch Đông phát biểu "Tái cáo Đài Loan đồng bào thư" tuyên bố "ngày lẻ pháo kích Kim Môn, ngày chẵn ngừng bắn", 1 tháng 1 năm 1979 Trung-Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ yêu cầu ngừng pháo kích làm điều kiện tiên quyết sau pháo kích chấm dứt, 21 năm lịch sử tiếp xúc quân sự hai bờ. Pháo đạn giai đoạn sau phần lớn là pháo tuyên truyền chứ không phải pháo thật.
  13. 36 năm chính trị quân sự chiến địa Kim Ma — Wikipedia — Phương pháp thí nghiệm chính trị quân sự chiến địa 8 tháng 7 năm 1956 tại Kim Môn thực thi (Ma Tụ cùng năm thực thi), 1 tháng 5 năm 1991 Điều khoản lâm thời thời động viên cán loạn bị bãi bỏ, 7 tháng 11 năm 1992 chính trị quân sự chiến địa Kim Ma chính thức bãi bỏ, đảo chính Đài Loan 15 tháng 7 năm 1987 giải nghiêm, Kim Ma muộn giải nghiêm 5 năm hơn so với đảo chính Đài Loan là thời gian chính trị quân sự chiến địa hoàn chỉnh.
  14. Lệnh giới nghiêm và quản chế chính trị quân sự chiến địa Kim Môn — Lịch sử khẩu thuật Cục Văn hóa Hạt thị Kim Môn — Kế hoạch lịch sử khẩu thuật Cục Văn hóa Hạt thị Kim Môn ghi chép lệnh giới nghiêm thời kỳ chính trị quân sự chiến địa là 10 giờ tối (Ma Tụ là 9 giờ), xuất nhập cảnh đăng ký, máy thu thanh đăng ký, ven biển không được thả vật nổi (phao bơi, xuồng cao su, bóng rổ, lốp xe v.v.), kiến trúc một số giai đoạn không được vượt quá hai tầng, lưu thông tiền tệ quân dụng, huyện trưởng và trưởng hương do quân phương chỉ định, 1993 mới có nhiệm kỳ đầu tiên huyện trưởng dân cử là thực tế quản lý quân sự. ⚠️ Trích dẫn "Chúng ta ở Kim Môn, sau khi giải nghiêm 5 năm vẫn còn quản lý quân sự" là biểu đạt điển hình của người cao tuổi Kim Môn trong lịch sử khẩu thuật, nhiều nguồn lịch sử khẩu thuật có biểu đạt tương tự, bài viết lấy biểu đạt khái quát.
  15. Quy mô quân đội Quân Quốc phòng đóng quân thời kỳ quản lý quân sự Kim Môn — Huyện chí Kim Môn — Huyện chí Kim Môn và nhiều tài liệu chiến sử ghi chép quy mô quân đội Quân Quốc phòng đóng quân cao nhất thời kỳ quản lý quân sự khoảng 50.000 đến 100.000 người, khi đó dân số cư dân khoảng 50.000 đến 70.000 người, mật độ đóng quân quân nhân nhiều hơn cư dân; nay quy mô quân đội đóng quân Kim Môn đã giảm xuống dưới 5.000 người, đồng bộ với tinh giản Lục quân Quốc phòng tổng thể, chuyển đổi chế độ nghĩa vụ.
  16. Quy cách hầm翟 Sơn — Quản lý khu công viên quốc gia Kim Môn — Hầm翟 Sơn nằm phía nam trấn Kim Thành, xây dựng 1961-1965 (một số tài liệu ghi 1960-1966), thiết kế dùng cho căn cứ cung cấp tàu ngầm và tàu đổ bộ nhỏ兼 kênh đạn, tổng chiều dài hầm 357 mét, rộng 11,5 mét, chứa được 42 tàu đổ bộ nhỏ, 1998 chuyển thành điểm du lịch, nay chèo kayak xuyên hầm là trải nghiệm du lịch phổ biến nhất Kim Môn là ghi chép công trình. Liệt Đảo hầm Cửu Cung toàn dài 780 mét, đá granite đỉnh hầm dày 30-50 mét, đủ sức chống lại đạn pháo trực tiếp.
  17. Lịch sử chính thức Nhà máy rượu Kim Môn — Công ty TNHH Thực nghiệp Nhà máy rượu Kim Môn — Trang web chính thức Công ty TNHH Thực nghiệp Nhà máy rượu Kim Môn ghi chép lịch sử 1952 do Tư lệnh phòng vệ Hồ Liên sáng lập "Nhà máy rượu Cửu Long Giang", sau đổi tên "Nhà máy rượu Kim Môn", sử dụng nguyên liệu cao lương bản địa Kim Môn sản xuất rượu, nay là doanh nghiệp công hữu thuộc hạt thị Kim Môn, doanh thu hàng năm vượt百亿 Tân Đài tệ, là một trong những nguồn tài chính chính của hạt thị Kim Môn là phiên bản chính thức.
  18. Cháu chắt Diệp Hoa Thành công khai tố giác — Kính Tuần San 2019 báo đạo — Kính Tuần San 2019 báo đạo sâu Diệp Hoa Thành cháu chắt Diệp Vĩ Nhân công khai lên tiếng cho lịch sử tổ phụ, trích dẫn verbatim "Công thức và kỹ thuật nấu rượu cao lương là do tổ phụ tôi Diệp Hoa Thành sáng lập, năm 1952 bị cưỡng chế trưng thu, đến nay Nhà máy rượu Kim Môn chưa từng chính thức thừa nhận lịch sử này. Chúng tôi không yêu cầu bồi thường, chỉ yêu cầu đối xử công bằng với lịch sử"; Diệp Hoa Thành 1949 trước sau khi Quân Quốc phòng rút về Đài Loan tại thành Kim Môn sáng lập "Nhà máy rượu Kim Thành" (sau đổi tên "Nhà máy rượu Cửu Long Giang") nghiên cứu kỹ thuật nấu rượu cao lương, 1952 bị quân phương cưỡng chế trưng thu đổi tên "Nhà máy rượu Kim Môn", Diệp Hoa Thành bản thân để lại làm cố vấn kỹ thuật nhưng mất quyền sở hữu và danh nghĩa người sáng lập là kể chuyện gia đình. ⚠️ Trích dẫn này là phiên bản được báo chí nhiều lần trích dẫn, nguồn gốc từng chữ chính xác chờ WebFetch xác nhận nguyên văn Kính Tuần San.
  19. Nguồn gốc địa danh Sở thành Kim Môn — Wikipedia — 1387 (Hoằng Vũ 20 nhà Minh) Giang Hạ Hầu Chu Đức Hưng được lệnh xây dựng Sở thành Kim Môn, lấy ý nghĩa "cố nhược kim thang, hùng trấn hải môn" gọi tắt "Kim Môn", trước đó gọi "Ngô Châu" hoặc "Tiên Châu" (tài liệu Đường Ngũ Đại), thời Đường đất chăn ngựa, Hậu Chu Hiển Đức 6 năm (959) Tuyền Châu thiết lập Tấn Giang huyện quản lý, nhà Minh xây Sở thành sau đại lượng di dân từ Tuyền Châu Phúc Kiến (huyện Đồng An) là tiến trình lịch sử.
  20. Trịnh Thành Công khởi binh phản Thanh tại Kim Môn — Đền Trịnh Thành Công trấn Kim Thành — 1646 (Thuận Trị 3 nhà Thanh) 23 tuổi Trịnh Thành Công khởi binh phản Thanh phục Minh tại Kim Môn và Hạ Môn, khu mộ di thần nhà Minh gần Minh Đức Hồ núi Nam Kim Môn đến nay vẫn còn, đền Trịnh Thành Công trấn Kim Thành là tư liệu văn hóa hạt thị tưởng niệm đoạn lịch sử này; 1662 Trịnh Thành Công thu phục Đài Loan cùng năm qua đời.
  21. Thôn Sơn Hậu Làng văn hóa dân gian — Công viên quốc gia Kim Môn — Thôn Sơn Hậu Làng văn hóa dân gian nằm trấn Kim Sa, xây dựng cuối Thanh đầu Minh (khoảng thập niên 1900-1920), tổng cộng 16-18 căn nhà cổ Mân Nam (thống kê các bên có chút出入, tư liệu đăng ký di tích Cục Văn hóa Hạt thị Kim Môn lấy số lượng bảo tồn thực tế làm chuẩn), do gia tộc Vương Sơn Hậu lưu lạc Nhật Bản về quê xây dựng, ngôn ngữ kiến trúc kết hợp truyền thống Mân Nam + chi tiết Nhật Bản + yếu tố trang trí Tây phương, 1979 liệt vào di tích đầu tiên, 1998 tu sửa sau mở cửa là dữ liệu kiến trúc chính thức.
  22. Điều tra Phong Sư Gia — Cục Văn hóa Hạt thị Kim Môn — Cục Văn hóa Hạt thị Kim Môn thập niên 2010 khởi động kế hoạch "Điều tra và tu sửa Phong Sư Gia", toàn đảo hơn 70 tượng (thống kê các bên từ 70 đến 90 khác nhau), đặt trên nóc nhà cửa thôn hoặc bên miếu, chức năng trấn phong sát bảo vệ thôn làng bình an, ghi chép từ thời Minh Thanh, thịnh hành thời Thanh, chất liệu sa thạch hoặc granite, hình thái đa dạng (đứng ôm cầu, đứng giơ tay, ngồi v.v.) là dữ liệu điều tra dân gian. Okinawa Shisa (シーサー) chức năng tương tự nhưng nguồn gốc liên quan Mân Nam vẫn có tranh cãi giới học giả.
  23. Địa lý và tiếng Bồ Tiên hương Ô Khâu — Văn phòng hương Ô Khâu — Hương Ô Khâu hành chính thuộc Hạt thị Kim Môn nhưng vị trí địa lý phía Bắc Bành Hồ gần Hạt thị Liên Giang, cách đảo chính Kim Môn hơn 170 km, do Đại Khâu Đảo và Tiểu Khâu Đảo hợp thành, cư dân khoảng 600 hộ, ngôn ngữ nói là "tiếng Bồ Tiên" (thuộc phương ngữ Mân khu vực Bồ Điền Tiên Du, không tương thông với Mân Nam Kim Môn, tiếng Phúc Châu Ma Tụ) là dữ liệu chính thức; Hương Ô Khâu là một trong những khu vực hành chính đặc biệt nhất Trung Hoa Dân Quốc.
  24. Sự khác biệt ngôn ngữ Kim Môn vs Ma Tụ — Wikipedia — Ngôn ngữ thông hành Kim Môn là Mân Nam giọng Đồng An (gần Mân Nam đảo chính Đài Loan phía Nam, giọng Hạ Môn, có thể tương thông), Ma Tụ thông hành là tiếng Phúc Châu Mân Đông (gần "đại đồng tiểu dị" với tiếng Phúc Châu thành phố Phúc Châu nhưng hoàn toàn không tương thông với Mân Nam đảo chính Đài Loan), Ô Khâu thông hành là tiếng Bồ Tiên bản đồ ngôn ngữ Hạt thị Kim Môn và Hạt thị Liên Giang; phản ánh nguồn gốc di dân khác nhau (Kim Môn chủ yếu từ Tuyền Châu Đồng An, Ma Tụ chủ yếu từ Phúc Châu Trường Lạc và La Nguyên).
  25. Tiến trình Đại học Quốc lập Kim Môn — Đại học Quốc lập Kim Môn — Đại học Quốc lập Kim Môn thành lập 1997 (tiền thân là bộ phận chuyên khoa phụ thuộc Học viện Khoa học Kỹ thuật Cao Hùng Quốc lập, sau thăng cấp thành Học viện Kỹ thuật Kim Môn Quốc lập, 2010 cải chế thành Đại học Kim Môn Quốc lập), là đại học đầu tiên từ trước đến nay của Kim Môn, là cột mốc cụ thể chuyển giáo dục thời chiến địa là lịch sử trường chính thức.
  26. Tiểu tam thông 25 năm tổng cộng và gián đoạn dịch bệnh — Hội đồng Hành chính Lục khu vực ủy — Trang web Hội đồng Hành chính Lục khu vực ủy ghi 2 tháng 1 năm 2001 Kim Môn-Hạ Môn, Ma Tụ-Fúc Châu "chuyến bay thử nghiệm trực tiếp" đầu tiên là điểm thử nghiệm sớm nhất "tam thông" (thông bưu thông thương thông hàng) hai bờ, trước tam thông đại năm 2008 là 7 năm, 2001-2024 tổng lượng hành khách tiểu tam thông khoảng 24 triệu lượt người (⚠️ thống kê các năm có chút出入), tháng 2 năm 2020 tiểu tam thông bị gián đoạn do COVID-19, tháng 2 năm 2023 khôi phục một phần (hạn chế người Đài Loan), từ 2024 dần khôi phục thông hành hai chiều là lịch sử giao lưu hai bờ.
  27. Dân số và cổ tức lợi nhuận Hạt thị Kim Môn — Văn phòng hộ chính Hạt thị Kim Môn — Báo tháng 2024 Văn phòng hộ chính Hạt thị Kim Môn ghi dân số đăng ký hộ tịch khoảng 145.000 người nhưng số dân thường trú thực tế thấp hơn, nhiều người Kim Môn làm việc trên đảo chính Đài Loan đăng ký hộ tịch Kim Môn hưởng trợ cấp hạt thị, Nhà máy rượu Kim Môn hàng năm phân phối cổ tức cho cư dân đăng ký hộ tịch (gọi tắt "cổ tức rượu Kim Môn") là một trong những động cơ kinh tế thực tế đăng ký Kim Môn là dữ liệu hộ chính; "có hộ khẩu Kim Môn" và "sống ở Kim Môn" sự chênh lệch tính toán mỗi ngày trên ngân sách hạt thị, bầu cử, trợ cấp bảo hiểm y tế.
Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
Kim Môn Kim Môn Trận Cổ Ninh Đầu Chiến tranh pháo kích Bát Nhị Tam Đánh ngày lẻ nghỉ ngày chẵn Chính trị quân sự chiến địa Rượu cao lương Kim Môn Diệp Hoa Thành Tiểu tam thông Ô Khâu Phong Sư Gia Series 22 hạt thị
Chia sẻ

Đọc thêm

Có thể bạn cũng muốn đọc

Địa lý

Bản đồ các khu vực hành chính của Đài Loan: Bức trình độ quyền lực từ 'hội đồng địa phương' đến 'năm thành phố'

Các khu vực hành chính của Đài Loan không chỉ là những đường thẳng trên bản đồ, mà còn là một thí nghiệm quyền lực kéo dài bốn thế kỷ. Từ các hội đồng bản xã thời Hà Lan, qua cuộc phong trào hiến địa danh thời Nhật tịch 'năm tỉnh ba trung tâm', đến việc gần như xuất hiện của 'thành phố Bảo Văn' sau chiến tranh, mỗi ranh giới đều che giấu niềm muốn cai quản và xã hội tự nhận của người dân.

閱讀全文
Địa lý

Cách đọc bản đồ Đài Loan: Từ củ khoai lang đến vệ tinh trong bốn trăm năm

Năm 1554, một họa đồ người Bồ Đào Nha trên tám tờ da cừu vẽ ra một hòn đảo mờ ảo tên là "I. Fremosa". Ông chưa từng đặt chân lên hòn đảo đó. Bốn trăm bảy mươi năm sau, hình dáng Đài Loan hiển thị trên Google Maps tùy thuộc vào quốc gia bạn đang ở — đây không phải vấn đề kỹ thuật, mà là chính trị.

閱讀全文
Địa lý

Kaohsiung thành phố: Năm 1979 khi Kaohsiung lên cấp thành phố trực thuộc trung ương, tám người Kaohsiung bị giam giữ tù nhân tại tù nhân của Taipei

Ngày 1 tháng 7 năm 1979, Kaohsiung được nâng lên cấp thành phố trực thuộc trung ương thứ hai của Đài Loan, sau Taipei ngày 1967. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1980, ngày Quốc tế Nhân quyền, hội nhóm người bảo thủ tại Kinh đô đảo Bắc Kinh bị xung đột giữa ánh sáng mạnh và khói nhám. Tám người bị kết án tù, vào ngày 28 tháng 2 năm 1980, vụ án máu xảy ra tại ngôi nhà của Lin Ngọ Tường trên đường Xây Dịch, Taipei. Cùng năm 1979, Kaohsiung đã nhận được "Quyền lợi hành chính", đồng thời chịu áp lực chính trị nặng nề nhất sau Chiến tranh Thế giới II. 271.000 người sống khắp 38 quận, từ bãi cát Phan Thiên, lều ngư dân Ban Cong tới nhà máy thép và khu đô thị hợp kim khang truyền, thành phố này đã dành 45 năm để biến vết thương thành hình dạng riêng của mình.

閱讀全文
Địa lý

Thị trấn mới Lín khách: Sự chuyển đổi từ "thị trấn ma" sang thành phố mới nổi lên ở Bắc Đài Loan và những thách thức

Vào thập niên 1970, chính phủ Đài Loan xác lập thị trấn mới Lín khách trên đồng Lín khách nhằm giảm áp lực dân số từ thủ đô Đài Bắc. Sau nhiều thập kỷ phát triển, khu vực này từng được chê bai vì giao thông không thuận tiện và chức năng thiếu thốn, gọi là "thị trấn ma", nhưng sau khi đường sắt đường sắt sân bay mở vào năm 2017, dân số tăng nhanh chóng, công nghiệp chuyển biến, trở thành một trong những khu đô thị trẻ, năng động nhất ở Bắc Đài Loan. Tuy nhiên, tắc nghẽn giao thông và khí hậu ẩm ướt vẫn là những thách thức cần vượt qua.

閱讀全文