30 giây tóm tắt: Mùa đông năm 1788, trên sườn núi ở Tân Phủ có một kỳ đài Bảo Trung được xây dựng để hợp tuyến hơn 200 linh cốt những nghĩa dân Khách Gia xấu số trong cuộc nổi dậy Lâm Sảng Văn. Năm 1790, công trình chính được hoàn thành, năm 1791 toàn bộ miếu đã xong. 235 năm sau, lễ tết Ngày Nghĩa Dân hàng năm vào ngày mồng 20 tháng bảy âm lịch vẫn còn tổ chức, bao quát 15 liên zhuang trải dài ba tỉnh/thành phố Đào/Tân/Trúc. Năm 1989, trụ sở chính quyền tỉnh Tân Trúc được dời từ thành phố Tân Trúc sang Trúc Bắc, lúc đó Trúc Bắc còn là một huyện nông thôn nhỏ. Sau khi ga Cao Tốc Tân Trúc khai thác năm 2007, dân số tăng gấp đôi từ 1,2 triệu lên 2,2 triệu người. Năm 2025, Trúc Bắc có thu nhập bình quân 1.442 triệu yên và thu nhập trung vị 857.000 yên, cả hai chỉ số đều xếp thứ nhất trong 368 đơn vị hành chính ở toàn quốc. Tân Trúc có 67.8% dân số là Khách Gia, cao nhất toàn quốc, nhưng trong 11 khu vực phát triển văn hóa Khách Gia được ưu tiên, số lượng thanh niên Khách Gia có khả năng mua được nhà ở quê hương của chính họ đang ngày càng giảm. Bài viết này muốn nói về: hai loại cảm giác về thời gian sống cạnh nhau trên cùng một dòng sông Đầu Tiền.
Chiều ngày Tết Nghĩa Dân, những chiếc mẫu đèn ở Tân Phủ được dựng lên
Nếu bạn hỏi một người dân Tân Phủ "Khi nào Tân Trúc nhất là Tân Trúc", người đó sẽ không nói với bạn về những ngày cuối tuần ở Nội Vạn (cuối tuần ở Nội Vạn là của những khách du lịch). Họ sẽ nói rằng đó là lúc chiều ngày Tết Nghĩa Dân, khi những chiếc mẫu đèn trước miếu Nghĩa Dân Bảo Trung ở Tân Phủ được dựng lên.
Mỗi năm, từ ngày 18 đến 20 tháng bảy âm lịch, miếu Bảo Trung Nghĩa Dân ở Tân Phủ tổ chức lễ tết Trung Nguyên Ngày Nghĩa Dân. Mười lăm liên zhuang lần lượt tổ chức, từ Trung Lệ, Bình Chẩn, Dương Mai, Long Tân, Tân Ốc, Quán Âm ở Đào Viên, đến Tân Phủ, Ngũ Phần Phù, Thạch Quang, Quán Tây, Đại Ái (Bắc Phố/Nga Nhĩ/Bảo Sơn), Cung Lâm, Hồ Khẩu của Tân Trúc, và Tân Trúc thành phố, trải dài ba tỉnh/thành phố và 20 huyện/thành phố, mỗi năm một liên zhuang được chọn làm chủ tế1. Sau chiều tháng 4, quảng trường trước miếu bắt đầu dựng những chiếc mẫu đèn. Những cây tre được nâng cao, buộc với đèn lồng đỏ và cờ gọi hồn, mời những linh hồn cô đơn từ khắp vùng lân cận vào đây được tế lễ.
Những cây tre được dựng lên từng cây một, nhân viên miếu không nói nhiều. Tiếng Khách Gia và tiếng Hô Lạc trộn lẫn với nhau, động tác lặp lại theo cùng một cách thức đã được lặp đi lặp lại trong hai trăm năm. Đây là một tỉnh vùng vào thời đại tín hiệu 5G mạnh nhất, vẫn duy trì nhịp thở của tháng bảy âm lịch.
5 cây số ngoài kia, ở khu vực Cao Tốc Trúc Bắc, chiều tháng 4 rưỡi chính là lúc ca trực của nhà máy Bảo Sơn thế hệ thứ hai của TSMC được trao đổi. Những chiếc xúc ép, tấm bê tông được đúc sẵn, xe chở bê tông xếp hàng một dãy từ Công viên Khoa học Tân Trúc vào. Đó là hiện trường xây dựng nhà máy chíp 2 nanomet, khởi công năm 2023, dự kiến sản xuất năm 20262. Một bên đang dựng mẫu đèn, bên kia đang chất bê tông. Cùng một dòng sông Đầu Tiền, hai loại cảm giác về thời gian.
1788, mùa đông, hợp tuyến hơn 200 linh cốt trên sườn núi đó

Miếu Bảo Trung Nghĩa Dân, mặt trước, 2018-05-27. Photo: Outlookxp. CC BY-SA 4.0 via Wikimedia Commons.
Để hiểu tại sao miếu này có 235 năm tuổi, cần kéo tiêu điểm lại thời kỳ Càn Long năm 51 (1786), mùa thu năm đó.
Năm ấy, Lâm Sảng Văn ở Chương Hóa Đại Lý Dược khởi nghĩa chống Thanh. Năm tiếp theo, đầu năm, Lâm Sảng Văn cử tướng Vương Tác dẫn quân đi phía bắc, tấn công chiếm Trúc Tuyến Thành (ngày nay là khu vực thành phố Tân Trúc), toàn bộ Tấm Thủy Thính bị rơi vào quân đội nổi loạn3. Lúc đó, khái niệm "Nghĩa Dân" là biên chế quân sự bổ sung sẵn có của triều đại Thanh: triều Thanh dành cho những người địa phương sẵn sàng vũ trang giúp bình loạn, sau đó sẽ trao tặng bảng, chia đất, dựng miếu. Những người Quảng Đông Khách Gia ở Trúc Tuyến lúc bấy giờ lập nên một quân đội Nghĩa Dân để giúp binh lính chính quy phản công và giành lại Trúc Tuyến Thành. "Trong cuộc nổi dậy Lâm Sảng Văn, khoảng 200 người Nghĩa Dân Quảng Đông ở Trúc Tuyến đã thiệt mạng trong chiến đấu"4. Ngoài ra còn có nguồn khác đề cập rằng sau khi sự kiện kết thúc "những chiếc xe bò đã thu lượm gần ba trăm bộ xương dọc theo đường chiến trường"5, có thể bao gồm những người chết ở hậu cứ, hai con số được trình bày song song.
Càn Long năm 52 (1787), sự kiện Lâm Sảng Văn được bình định, Thanh Cao Tông trao tặng bảng "Bảo Trung" cho những Nghĩa Dân Quảng Đông6. Năm tiếp theo (1788), mùa đông, Vương Đình Xương, Hoàng Tông Vượng, Lâm Tiên Côn, Ngô Lập Quý bốn họ thủ lĩnh bắt đầu khởi công trên một sườn núi ở làng Phương Liêu, Tân Phủ, để xây dựng một mộ chôn tập thể và miếu cho những Nghĩa Dân tử thương. Càn Long năm 55 (1790), mùa đông, công trình chính hoàn thành; Càn Long năm 56 (1791), toàn bộ miếu xây xong7.
📝 Ghi chép từ ban tổ chức: "Năm xây miếu" của miếu Nghĩa Dân thường được viết gọn thành "1788", nhưng thực tế là một quá trình kéo dài ba năm: khởi công mùa đông 1788, công trình chính hoàn thành mùa đông 1790, toàn bộ miếu xây xong 1791. Phân chia ba giai đoạn rất quan trọng. Miếu này được xây dựng từ hai năm sau khi những người chết thương xong, và xây xong sau bốn năm. Tốc độ xây dựng miếu chính nó cho bạn biết khả năng của nhóm người Khách Gia lập địa ấy: họ có tiền, có người, có tổ chức, đủ để xây một miếu hoàn chỉnh trong một vùng biên giới lập địa vừa sau một trận chiến. Còn quan trọng hơn: miếu này từ ban đầu đã là nơi hợp tuyến những xương "chủ nhân bất minh", hơn hai trăm bộ xương Khách Gia không có người thân đến nhận được hợp tuyến dưới mộ Nghĩa Dân. Công trình chính là thêm vào sau này, thực chất của miếu là một cái mộ chôn tập thể lớn. Cách người Khách Gia xử lý "cái chết không ai chăm sóc" từ miếu này bắt đầu trở thành một chế độ.
Đạo Quang năm 15 (1835), ban miếu mời những làng Khách Gia ở Tân Trúc, Đào Viên bắt đầu tổ chức lễ tết Trung Nguyên theo lịch trình, lúc đầu là 13 liên zhuang. Năm 1976 (dân quốc 65), mở rộng thành 15 liên zhuang lớn, bao quát 20 huyện/thành phố ở ba tỉnh/thành phố Tân Trúc, Đào Viên, Tân Trúc, mỗi năm vào ngày 18 đến 20 tháng bảy âm lịch tổ chức lễ tết, ngày 20 là Ngày Nghĩa Dân8.
Đáng chú ý là sự đối chiếu với những tín ngưỡng Nghĩa Dân Khách Gia khác ở Đài Loan: Tự Đôi Trung Nghĩa Từ ở Bình Đông nguồn gốc từ năm 1721, cuộc nổi dậy Chu Nhất Quý, sớm hơn miếu Nghĩa Dân Tân Trúc; miếu Nghĩa Dân Bắc Miêu ở Diêu Lạc cũng nguồn gốc từ năm 1786, cuộc nổi dậy Lâm Sảng Văn, cùng thời kỳ với Tân Trúc. Điều đặc biệt của miếu Bảo Trung Tân Phủ là vòng kính tế lễ lớn nhất, 15 liên zhuang ở ba tỉnh/thành phố tổ chức, điều này là duy nhất trong toàn bộ tín ngưỡng Nghĩa Dân Khách Gia Đài Loan9.
1835, tờ hợp đồng lập địa có sự tham gia của người Hà Lạc và Khách Gia
Vào cùng thế hệ xây xong miếu Nghĩa Dân, những vùng nội địa của tỉnh Tân Trúc bắt đầu được lập địa.
Vương Thế Kiệt (1661-1721), quê quán Kim Môn, là một trong những người Han Nhân sớm lập địa quy mô lớn ở vùng Trúc Tuyến Phố. Phần lớn tài liệu ghi chép ông "từ khoảng 1711 bắt đầu lập địa", năm 1718 (Khang Tức 57) hoàn thành hệ thống tưới tiêu 400 mẫu, sau gọi là "Long Ân Tuyền", đặt nền tảng cho sự phát triển công trình thủy lợi Trúc Tuyến10. "1718 lập địa" thường được xem là điểm bắt đầu, nhưng thực ra nó gộp hai sự kiện: "lập địa" và "hoàn thành công trình thủy lợi" vào một năm. Cách nói chính xác hơn là "1711 bắt đầu lập địa / 1718 Long Ân Tuyền hoàn thành".
Đạo Quang năm 14 (1834) tháng 12, một viên tương khai Tấm Thủy là Lý Tự Duệ cấp tiền mộtngàn đồng, ra lệnh cho tổng lý làng Cung Lâm là Kiương Tú Loan xây 15 chiếc tiền sảo, tuyển 160 người tuần sảo. Năm sau (1835) tháng 2, ra lệnh cho tổng lý Trúc Tuyến thành Tây Môn là Lâm Đức Tu và Chu Bang Chính của người Hà Lạc liên hợp với Kiương Tú Loan, lập "Kim Quảng Phúc Tổng Khán Hộ". "Kim" là ký tự cát tường, "Quảng" đại diện người Khách Gia từ Quảng Đông, "Phúc" đại diện người Hà Lạc từ Phúc Kiến. Cả hai bên Hà Lạc và Khách Gia mỗi bên vốn 12.600 đồng11.
Sự phân công rất rõ ràng: "Chu phụ trách vận hành lập kế hoạch và thương lượng công việc, Kiương thì đóng trạm hiệp và tham gia lập địa"12. Người này lo công việc thành phố, người kia lo giám sát núi.
Kim Quảng Phúc mở rộng về phía nam bao gồm những khu vực ngày nay là huyện Bắc Phố, huyện Bảo Sơn, huyện Nga Nhĩ, truyền qua bốn thế hệ thủ lĩnh Khách Gia, ba thế hệ thủ lĩnh Hà Lạc, từ 1835 đến 1886 khi Lưu Minh Truyền chính sách bãi bỏ tiền sảo, tổng cộng 52 năm. Quỹ Sử Liệu Đài Loan Ngô Tam Liên có nhận xét rất nặng nề: "Thành lập Kim Quảng Phúc là một lần tiến công của các ông tổ từ phòng thủ, thay đổi từ phòng chống thụ động thành lập địa tích cực, là nơi khởi đầu lại sự phát triển, cũng là một ví dụ hiếm hoi về hợp tác Hà Lạc-Khách Gia, và hơn nữa là người kết thúc sự lập địa nội địa của khu vực Tân Trúc"13.

Tòa lâu Kiương Á Tân ngoài cảnh. Photo: Ckfhouse. CC BY-SA 4.0 via Wikimedia Commons.
Phố cổ Bắc Phố là những dấu vết do Kim Quảng Phúc để lại. Từ Từ Thiên Cung, Kim Quảng Phúc Công Quán, Tòa lâu Kiương Á Tân, Thiên Thủy Đường song song: "Trên một khu phố cũ nhỏ nhắn, lại có tới bảy tòa cổ tích và công trình lịch sử" (cách nói của tạp chí VERSE)14. Kim Quảng Phúc Công Quán là cổ tích quốc gia cấp một được công bố năm 1983, là một tòa lâu hai tiền sân một viện bốn khe kiểu tứ hợp viện, tòa lâu ngoài phải năm 1935 sau trận động đất Tân Trúc-Đài Trung xây lại thành kiến trúc Nhật, tòa lâu ngoài trái vẫn giữ lại kiến trúc thời Thanh15.
Tòa lâu Kiương Á Tân thường bị nhầm với công trình xây dựng thời kỳ Nhật chiếm đóng. Thực tế không phải vậy. Kiương Á Tân (tên chữ là Mục Hỷ) là thế hệ thứ sáu của Kiương Tú Loan, thủ lĩnh Kim Quảng Phúc, làm kinh doanh trà từ những năm 1930 thời kỳ Nhật, nhận được hỗ trợ của Tam Quả Nông Lâm, sở hữu nhiều nhà máy trà. Năm 1946 (dân quốc 35), hậu chiến ông sáng lập công ty Vĩnh Quang và bắt đầu xây tòa lâu, năm 1949 (dân quốc 38) hoàn thành, mục đích là tiếp đãi những thương nhân trà nước ngoài16. Phong cách Baroque giả tây phương kết hợp thương mại, nửa vòm tròn, cửa sổ lồi và những kỹ thuật kiến trúc cổ điển phương Tây, bên trong gỗ cấu trúc hầu hết lấy từ những vườn lâm tự khai thác (gỗ óc chó trắng, gỗ điều, gỗ quế, gỗ pơ mu, gỗ tây xanh). Năm 2001 được công bố là cổ tích cấp tỉnh, từ năm 2012 sau người thừa kế gộp vốn mua lại, năm 2021 trở thành địa điểm quay phim truyền hình "Trà Vàng".
✦ "Miễn là tôi còn sống, nhạc tám âm sẽ không bao giờ bị đứt." (Tạp chí VERSE dẫn lại lời của Bành Tuấn Dương, người dân Bắc Phố truyền thừa nghệ thuật nhạc tám âm14)
Gió hạ ngụa thổi xuống: bánh diếc, bánh tráng và trà phồng gió
Khí hậu của tỉnh Tân Trúc được quyết định bởi địa hình.
Dãy núi Tuyết Sơn phía tây nam, những gò đồi Hương Sơn và cao nguyên Hồ Khẩu hình thành một vùng đất lầu thấp kiểu kèn trombone, sau khi gió mùa đông bắc vào được địa hình ấn chặt làm tăng cường lực, mỗi năm từ khoảng mồng 20 tháng chín âm lịch (khoảng giữa tháng 10 dương lịch) bắt đầu có một loại gió khô lạnh được gọi là "gió hạ ngụa", tốc độ gió có thể tới 20 mét trên giây17. Gió hạ ngụa thổi thành ba thứ đặc sản của tỉnh Tân Trúc: bánh tráng Tân Trúc (vùng Trúc Bắc, bột gạo được ngâm trong nước rồi phơi trên giá tre, gió bắc thổi khô đều hơn phơi nắng), bánh diếc Tân Phủ (vùng Hoang Khảm tháng 9-12 phơi nắng, lịch sử ít nhất 170 năm, quá trình 7-9 ngày, tước cuống, bóc vỏ, phơi nắng, thổi khô, định hình), sắn bên Quán Tây (gió bắc thổi khô rồi thu hoạch, làm sắn đông, nướng sắn nóng, tỉnh Tân Trúc Quán Tây chiếm hơn 60% sản lượng sắn toàn quốc)18.

Bông chè Bắc Phố. Photo: Phủ Tổng Thống. CC BY 2.0 via Wikimedia Commons.
Tân Phủ còn có một con phố khác là phố bánh tráng. Khu Trung Chính, phố Hoà Bình, phố Thành Công tập trung hơn 200 tiệm bánh tráng, có câu nói "Bắc là Tân Phủ, Nam là Mỹ Nông"19. Bánh tráng Khách Gia là một vật phẩm đặc trưng của ẩm thực Khách Gia, giống với bánh trôi bánh nước của người Hô Lạc là cùng một thứ nhưng cách viết khác.
Kinh doanh trà là một dòng kinh tế khác của vùng đồi Tân Trúc. Huyện Bắc Phố gọi là "trà phồng gió", huyện Nga Nhĩ gọi là "trà Nhân Hướng Mỹ Nhân", thực tế là cùng một loại trà ở hai nơi khác nhau của hai huyện có cách gọi khác nhau. Điểm mấu chốt của quá trình làm trà: những lá trà trước tiên phải bị ấu trùng côn trùng xanh nhỏ thích, hình thành "chứa ấu trùng" trà xanh, lá mới sẽ sản sinh hương thơm mật ong đặc biệt và hương quả chín; vì phải đợi ấu trùng côn trùng xanh, không được phun thuốc diệt cỏ (nếu phun thì côn trùng chạy mất rồi)20. Mức độ lên men 60% là tiêu chuẩn của Trạm Cải Lương Công Nghiệp Trà Đài Loan, những nông dân Tân Trúc Diêu Lạc thực tế có thể đạt tới 75-85%. Tên trà được truyền đạt rằng những nông dân đem vào thành phố bán, bị những cửa hàng nước ngoài mua hết sạch, người trong làng cảm thấy những nông dân đang "phồng gió" (tiếng Khách Gia "nói dối"), sau đó câu chuyện "những nhà buôn Anh đã dâng trà phồng gió từ Nhà Máy Tuỳ Xương Bắc Phố cho Hoàng Hậu Tây Tòa" lưu truyền rộng rãi, tuy nhiên những tài liệu gốc về việc Hoàng Hậu Tây Tòa thưởng trà không rõ ràng21, là có thể để ghi như một câu chuyện văn hóa, nhưng không thể viết thành sự kiện lịch sử.
Gió hạ ngụa kết hợp với những làng Khách Gia trong nhịp sống sinh hoạt hàng ngày: từ cuối tháng 9 trở đi bánh diếc đang phơi nắng, sắn đang thu hoạch, bánh tráng đang treo, lá trà đang uốn. Toàn bộ mùa thu của những làng Khách Gia là một bản đồ thực phẩm bị gió thổi khô.
Tu Mã Khố Tư, đại hội bộ lạc nói đất đai là tài sản chung
Bước vào huyện Nhọn Thạch, một thế giới khác của tỉnh Tân Trúc xuất hiện.
Tỉnh Tân Trúc có hai huyện vùng núi: huyện Ngũ Phong (tộc Tái Hạ + tộc Thái Nhạn) và huyện Nhọn Thạch (chủ yếu là tộc Thái Nhạn). Dân số tộc Tái Hạ trong tỉnh Tân Trúc 1.560 người, cư ngụ ở làng Đại Ái và làng Hoa Viên của huyện Ngũ Phong; dân số tộc Thái Nhạn 15.876 người, chiếm khoảng 18.66% dân số tộc Thái Nhạn toàn tỉnh, chủ yếu ở huyện Nhọn Thạch22. Hai huyện này vì là huyện vùng núi, tự trị dân tộc nguyên thủy, không được listed vào 11 khu vực phát triển văn hóa Khách Gia được công bố năm 2010 bởi Ủy ban Khách Gia (11 huyện/thành phố là Trúc Bắc, Trúc Đông, Tân Phủ, Quán Tây, Hồ Khẩu, Tân Dục, Cung Lâm, Hoàng Sơn, Bắc Phố, Bảo Sơn, Nga Nhĩ)23.

Cây gỗ khổng lồ Tu Mã Khố Tư. Photo: người dùng panoramio qua Wikimedia. CC BY 3.0 via Wikimedia Commons.
Tu Mã Khố Tư (tiếng Thái Nhạn là Qalang Smangus) nằm ở làng Ngọc Phong, huyện Nhọn Thạch, độ cao khoảng 1.500 mét, là một trong những bộ lạc nguyên thủy xa xôi nhất toàn Đài Loan. Năm 1979 mới có cung cấp điện24. Năm 1991, thủ lĩnh Icyeh-Sulung (Ỷ Nhạn Tư Long) mơ thấy lời thần ở Ba Lăng, quay lại sau đó kể với những người bộ lạc đi tìm những cây gỗ đỏ sâu trong rừng, "cũng như những vị tổ tiên đã dặn dò, họ tìm thấy những cây gỗ đỏ khổng lồ lớn nhất trong rừng gỗ"25. Cây gỗ đỏ lớn thứ hai, thứ ba của Đài Loan đều nằm trong khu vực thần cây Tu Mã Khố Tư. Tháng 6 năm 1995, đường giao thông bộ lạc được mở, "Tu Mã Khố Tư chính thức liên hệ với toàn bộ xã hội"26.
Sự kiện xảy ra sau đó quan trọng hơn những cây gỗ. Từ năm 2001, những thành viên bộ lạc thiết lập một khung cơ cấu quản lý chung, năm 2004 thành lập Tnunan (đại hội bộ lạc), lấy "đất đai tài sản chung, hợp tác sống chung" làm giá trị sống27. Tnunan sau này đặt nền tảng cho một "hiến pháp đất đai": cấm mua bán, cho thuê, chuyển nhượng đất đai cho người ngoài bộ lạc. Bộ lạc duy nhất toàn Đài Loan vận hành theo mô hình hợp tác xã, mỗi thành viên nhận cùng một mức lương hàng tháng, lần lượt chịu trách nhiệm quét dọn, nấu ăn, canh tác, đón khách. Tạp chí Quang Hoa Đài Loan dẫn lời của người bộ lạc: "Trước đây những người nguyên thủy trở về từ buôn bán thịt lợn rừng, sẵn sàng chia sẻ cho tất cả mọi người. Bây giờ chúng tôi đang chia sẻ đất đai, đưa văn hóa chia sẻ này tới mức cao nhất"28.
📝 Ghi chép từ ban tổ chức: Câu chuyện Tu Mã Khố Tư thường bị đơn giản hóa thành "bộ lạc bị mất từng tìm thấy thần cây trở thành điểm du lịch". Nhưng lõi thực sự nằm ở năm 2004 khi "hiến pháp đất đai" được thiết lập: khám phá thần cây 1991 là cơ sở vật chất của việc thiết lập hiến pháp đất đai 2004. Không có những cây gỗ khổng lồ được nhìn thấy, bộ lạc không có doanh thu du lịch; không có doanh thu du lịch, không có một khoản vốn để biến đất đai tài sản chung thành một thực thể kinh tế có thể hoạt động. Từ 1979 (có điện) đến 1991 (khám phá thần cây) đến 1995 (đường thông) đến 2001 (quản lý chung) đến 2004 (hiến pháp đất đai), 24 năm sáu mốc đầu. Tu Mã Khố Tư là lý do nó là "bộ lạc duy nhất toàn Đài Loan vận hành theo mô hình hợp tác xã", lý do này không nằm ở độ cao đạo đức mà nằm ở việc tìm thấy một kẽ hở để chống lại logic quyền sở hữu tư nhân, và cơ sở vật chất của kẽ hở đó là hai cây gỗ đỏ.
Ở bên cạnh là Chân Tây Pho (Tjimutjar) có một dòng câu chuyện khác. Năm 1986, những cư dân bộ lạc Chân Tây Pho và Tân Quang kịch liệt kháng cáo, ngăn chặn Cục Lâm Lâm phủ phá rừng gỗ điều gần đó, bảo vệ được rừng gỗ lân cận29. Giáo hội Long Giáo Trưởng dùng đá từ Tú Tuyền Khê và đá lớn từ Hoa Liên để xây, dùng những vật dụng sinh hoạt của người nguyên thủ kể chuyện truyền thống. Chân Tây Pho kết hợp với Tu Mã Khố Tư và bộ lạc Nẳng Lạc ở làng Cẩm Phong tạo thành nhóm bộ lạc Thái Nhạn đại diện nhất của huyện Nhọn Thạch. Bộ lạc Nẳng Lạc nằm ở độ cao 600-1800 mét, hơn 200 hộ gia đình, hơn 780 người, là một con đường bắt buộc đi qua để tới Tu Mã Khố Tư và Chân Tây Pho, Nẳng Lạc Khê chảy qua bộ lạc, vì là một con đường giao thông quan trọng nên sự di cư của người Han xảy ra, hình thành sự cư ngụ của nhiều dân tộc.
Tộc Tái Hạ của huyện Ngũ Phong cùng với tộc Tái Hạ ở huyện Nam Trang, tỉnh Diêu Lạc cùng duy trì một nghi lễ: Ba Tư Đạt Ái (paSta'ay), trong miệng người ngoài gọi là "lễ tiền thần". Tộc Tái Hạ lấy núi Nga Công Kế làm ranh giới chia thành bắc quần (Ngũ Phong Tân Trúc) và nam quần (Nam Trang, Sư Đàng Diêu Lạc), sân tế bắc ở xã Đại Ái, làng Chu gia, huyện Ngũ Phong, sân tế nam ở hướng Thiên Hồ, Diêu Lạc. Mỗi hai năm tổ chức một lần, mỗi mười năm tổ chức lễ lớn. Lõi của lễ tế là "chuộc tội và hoà giải", xin lỗi những tiền thần (Ta'ay), nếu dân tộc không trung thực tổ chức nghi lễ sẽ bị nguyền rủa mất con em30. Năm 2013, Bộ Văn hoá công bố là dân tộc học quan trọng quốc gia.
Cùng một tỉnh Tân Trúc, những lễ tế ở làng Khách Gia bình địa hướng tới 200 năm trước những tử nạn vì xung đột cơ khí đã xin lỗi (Ngày Nghĩa Dân), những lễ tế ở vùng núi của tộc Tái Hạ hướng tới một quá khứ xa xôi hơn đang xin lỗi những người tiền thần (lễ tiền thần). Cả hai đều là "không quên".
1988, chính quyền tỉnh dời sang Trúc Bắc, đó là trạm trước công viên khoa học
Kéo lại để xem lịch sử hành chính của tỉnh Tân Trúc.
Năm 1 Quang Tự (1875), tỉnh Tấm Thủy được tách ra thành tỉnh Tân Trúc và tỉnh Tấm Thủy, Trúc Tuyến được đổi tên thành "Tân Trúc", đây là lần đầu tiên tỉnh được thiết lập, trung tâm hành chính nằm ở khu vực ngày nay là thành phố Tân Trúc. Nhưng vận hành thực tế phải chờ cho đến năm 5 Quang Tự (1879) viên chính quyền tỉnh đầu tiên nhậm chức31. Chính phủ tỉnh Tân Trúc tính toán chính thức thiết lập tỉnh được 140 năm chỉ tới 1879 cộng 140 bằng 2019, lấy 1879 làm điểm bắt đầu.
Năm 1895, người Nhật đến, tỉnh Tân Trúc thời Thanh bị thôi. Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, những thay đổi hành chính Diêu Lạc và Tân Trúc rất thường xuyên: từ 1901-1909 là tỉnh Tân Trúc, 1920 bãi bỏ tỉnh lập quốc, tỉnh Tân Trúc thuộc tỉnh Tân Trúc. Năm 1945 sau chiến tranh tự trị địa phương được phát hành, tỉnh Tân Trúc với bản đồ mới xuất hiện lại.
Năm 1950, tỉnh Tân Trúc và thành phố Tân Trúc bị tách riêng, nhưng trụ sở tỉnh tạm thời được đặt ở thành phố Tân Trúc (lúc ấy Trúc Bắc chỉ là một huyện nông thôn nhỏ). Năm 1982 tháng 6, Tổng Thống phê chuẩn việc tách tỉnh Tân Trúc và thành phố Tân Trúc, ngày 1 tháng 7 từ lúc ấy khu vực "thành phố Tân Trúc" ban đầu trở thành một thành phố cấp tỉnh độc lập, chính phủ tỉnh Tân Trúc phải tìm một nơi khác làm trụ sở32. Cuộc tranh chấp về địa điểm trụ sở rất dữ dội: Hội đồng tỉnh đề xuất bốn phương án là huyện Trúc Đông, huyện Trúc Bắc, huyện Hồ Khẩu, huyện Cung Lâm, Trúc Bắc giành được 15 chữ ký ủy viên tỉnh nhiều nhất (tổng số 42 ủy viên), Trúc Đông lại được phần lớn các ủy viên tỉnh tỉnh ủy hỗ trợ (trong 15 người 12 người). Cuối cùng thống đốc tỉnh Trần Tiến Hưng đã quyết định: "15 ủy viên tỉnh ủy có 12 người hỗ trợ ở Trúc Đông, tôi xem xét yếu tố phát triển đề nghị chọn Trúc Bắc"33. Ngày 1 tháng 3 năm 1982 được xác định.
Năm 1988 (dân quốc 77) Trúc Bắc lên thành phố tỉnh, năm 1989 (dân quốc 78) chính phủ tỉnh hoàn thành chuyển sang Trúc Bắc. Ghi chép hoạt động chính thức của chính phủ tỉnh Tân Trúc năm 2019 là như vậy34. Trúc Bắc bắt đầu biến từ một huyện nông thôn nhỏ thành trung tâm hành chính.
Nhưng cái thực sự thay đổi Trúc Bắc là ngày 5 tháng 1 năm 2007 khởi động ga Cao Tốc Tân Trúc (ga Lục Gia).

Phố cổ Hồ Khẩu. Photo: Whhalbert. CC BY-SA 3.0 via Wikimedia Commons.
Ga Cao Tốc Tân Trúc nằm ở khu vực Cao Tốc Trúc Bắc, cách Công viên Khoa học Tân Trúc khoảng 10 phút đi xe. Năm 2007 ga khởi động, dân số Trúc Bắc khoảng 1,2 triệu người, năm 2025 tháng 9 cuối cùng dân số thành phố Trúc Bắc 220.662 người, gần 2,2 triệu, 18 năm dân số tăng gấp đôi35. Khu vực Cao Tốc Trúc Bắc cũng trở thành "có khả năng hút một lượng lớn những người có thu nhập cao từ Công viên Khoa học Tân Trúc" của một khu vực cư trú.
Năm 2024 tháng 4, chính phủ tỉnh Tân Trúc công bố thống kê thu nhập: thành phố Trúc Bắc với tổng thu nhập bình quân 1.442 triệu đồng, thu nhập trung vị 857.000 đồng, trong 368 đơn vị hành chính quốc gia cả hai chỉ số đều giành được vị trí thứ nhất36. Sau lưng là lịch trình mở rộng nhà máy của TSMC: Bảo Sơn một giai đoạn đã vận hành được nhiều năm, Bảo Sơn giai đoạn hai nhà máy chíp 2 nanomet khởi công 2023, dự kiến sản xuất 2026, công trình bốn nhà máy chíp 12 inch là động lực tăng trưởng dân số liên tục của khu vực Trúc Bắc-Bảo Sơn.
Tạp chí Thiên Hạ dẫn lời của cư dân địa phương Trúc Bắc: "giá nhà Trúc Bắc chưa bao giờ giảm"37. Bốn chữ này trong báo cáo tỷ lệ chi phí sinh sống nhà ở công bố năm 2024 của Bộ Nội vụ được hưởng đáp ứng: tỷ số giá nhà theo thu nhập của thành phố Trúc Bắc là một vị trí cao trong các thành phố cấp tỉnh toàn quốc. Một tỉnh có tỷ lệ người Khách Gia 67.8%, cao nhất toàn quốc, đang đối mặt với sự căng thẳng: "những người có mức lương cao nhất trong tỉnh của chính họ" và "những thanh niên Khách Gia truyền thống của tỉnh" không mua được nhà ở cùng một nơi.
Bên cạnh tín ngưỡng Nghĩa Dân là nhà máy Bảo Sơn thế hệ thứ hai của TSMC

Ga Nội Vạn. Photo: billy1125. CC BY 2.0 via Wikimedia Commons.
Những mâu thuẫn đương đại của tỉnh Tân Trúc không có bất kỳ sự kiện nào được kịch tính hóa. Nó là hai điểm trên bản đồ sáng cùng một lúc.
Điểm đầu tiên là miếu Nghĩa Dân Tân Phủ. Từ năm 1788 khởi công, 1791 hoàn thành toàn bộ miếu, 1835 bắt đầu 13 liên zhuang tổ chức lễ tết Trung Nguyên, 1976 mở rộng thành 15 liên zhuang, 2013 Bộ Văn hoá đăng ký là dân tộc học quan trọng quốc gia, miếu này vượt qua bốn chế độ chính trị là chinh phục, Nhật chiếm đóng, hậu chiến, bãi bỏ thiết quân luật, lễ tế không từng ngừng. Đơn vị thời gian của nó là "năm", mỗi năm vào ngày mồng 20 tháng bảy âm lịch tập trung một lần.
Điểm thứ hai là nhà máy Bảo Sơn giai đoạn hai TSMC cách đó 5 cây số. Đơn vị thời gian của nó là "chu kỳ thiết kế": trung bình mỗi 18 tháng một lần thay thế thế hệ quy trình, từ 5 nanomet tới 3 nanomet tới 2 nanomet tới thế hệ A14 tiếp theo, mỗi vòng thiết kế phải hoàn thành từ nghiên cứu phát triển tới sản xuất trong 18 tháng. Bảo Sơn giai đoạn một đã vận hành được nhiều năm, Bảo Sơn giai đoạn hai khởi công 2023, dự kiến sản xuất 20262.
Cách nhau 5 cây số, "năm" và "18 tháng" của hai loại cảm giác về thời gian tồn tại cùng một lúc.
Sự trỗi dậy của thành phố Trúc Bắc thay đổi phân bố dân số của tỉnh Tân Trúc. Từ năm 1996, tỷ lệ tăng dân số xã hội ở tỉnh Tân Trúc lâu nay là dương (bị ảnh hưởng bởi nhà máy TSMC mở rộng), nhưng sự tăng trưởng dương này phân bố cực kỳ không đều: Trúc Bắc, Tân Dục, Bảo Sơn tiếp Công viên Khoa học được hưởng lợi, huyện Ngũ Phong chỉ còn khoảng 4.400 người (toàn tỉnh ít nhất), huyện Nhọn Thạch có diện tích lớn nhất (527 kilômét vuông) nhưng dân số tiếp tục giảm. Những huyện Tân Phủ, Hồ Khẩu, những làng Khách Gia truyền thống "thực sự có tình hình dân số giảm" là sự kiện được chính phủ tỉnh Tân Trúc thừa nhận. Một tỉnh vừa là nơi có "sức hút dân số mạnh nhất Đài Loan" vừa là "dân số thanh niên Khách Gia chảy ra ngoài".
Ở tầng ngôn ngữ cũng đang bị kéo co giãn. Ủy ban Khách Gia năm 110 (2021) điều tra dân số Khách Gia toàn quốc: tỷ lệ dân số Khách Gia tỉnh Tân Trúc 67.8%, cao nhất các tỉnh/thành phố quốc gia (Diêu Lạc 62.5%, Đào Viên 39.9%, Hoa Liên 34.2%, thành phố Tân Trúc 30.3%)38. Cùng lúc đó, bài viết tự do trích dẫn một tài liệu khác: "tỷ lệ người Khách Gia tỉnh Tân Trúc từ những ngày đầu 85%, đến điều tra năm năm trước đó là 73.6%, cho đến bây giờ lựa chọn học ngôn ngữ Khách Gia ở trường là 47.35%". Ba con số sự khác biệt rất lớn, nguyên nhân là ở "tự xác nhận danh tính", "độ thành thạo ngôn ngữ", "chọn học ngôn ngữ ở trường" là đo lường ở những tầng khác nhau39. Năm 110 là 67.8% "xác nhận là người Khách Gia" là con số chính thức và đáng tin cậy nhất, nhưng "tỷ lệ chọn học tiếng Khách Gia" 47.35% là chỉ báo thất thoát ngôn ngữ thế hệ thậm tệ hơn.
✦ "Đây là miếu Nghĩa Dân 235 năm tuổi, 5 cây số ngoài kia là nhà máy chíp 18 tháng." (tóm tắt đương đại tỉnh Tân Trúc)
Năm 2021, thị trưởng thành phố Tân Trúc Lâm Trí Kiên từng đề xuất "Hợp nhất Tân Trúc lớn lên thành phố trực thuộc trung ương", Tân Trúc 57 vạn người cộng thành phố Tân Trúc 45 vạn người bằng 102 vạn người, không đạt ngưỡng 125 vạn của thành phố trực thuộc trung ương, năm 2022 cuối cùng không được thúc đẩy40. Cuộc thảo luận "hợp nhất" vẫn còn tiếp tục, nhưng hiện tại phân chia hành chính giữa tỉnh Tân Trúc và thành phố Tân Trúc vẫn là bố cục còn lại sau 1982.
Nếu bạn dưới lần sau đi tỉnh Tân Trúc, đừng chỉ đi hai tuyến động phố cổ Bắc Phố và phố cổ Nội Vạn. Thử tới miếu Nghĩa Dân Tân Phủ lúc chiều tháng 4 rưỡi sau ngày 18 âm lịch, xem 15 liên zhuang chủ tế thần lợn đi vòng quanh, xem những chiếc mẫu đèn được dựng lên. Sau đó lái xe 5 cây số tới những bức tường khu vực nhà máy TSMC Bảo Sơn, xem luồng ôtô ca trực chiều. Bạn sẽ nhớ một việc: "nhanh" và "chậm" của tỉnh này không đang đánh nhau, mà đang xếp hàng bên cạnh nhau. Làng Khách Gia không bị Công viên Khoa học áp đảo, nhưng cũng không ngăn chặn được những thanh niên đi làm việc ở Công viên Khoa học Tân Trúc. Bên cạnh miếu Nghĩa Dân là nhà máy Bảo Sơn thế hệ thứ hai TSMC. Cùng một bờ sông Đầu Tiền, hai thời đại mỗi cái sống riêng.
Đọc thêm
- Cơ Long (kỳ lạc, kiếp) — 22 tỉnh/thành phố series batch 1 pilot, một thành phố khác bị khung kiến trúc thủ đô áp chặt, so sánh hai dạng chính trị địa phương
- Diêu Lạc (kỳ lạc, kiếp) — 22 tỉnh/thành phố series anh em, tỷ lệ người Khách Gia thứ hai cao (62.5%) của tỉnh, kết hợp với "tín ngưỡng Nghĩa Dân vs Công viên Khoa học" của Tân Trúc, trải nghiệm Khách Gia khác
- Văn hoá và ngôn ngữ Khách Gia (kỳ lạc, kiếp) — phân bố toàn quốc của bốn giọng Khách Gia huyện (giọng chính Diêu Lạc) vs bảy mươi biển (giọng chính Tân Trúc), bối cảnh nền tảng tỷ lệ 67.8% của Tân Trúc
- Ẩm thực Khách Gia (kỳ lạc, kiếp) — bánh tráng, bông chè, những món ăn nhỏ Khách Gia, bối cảnh bàn ăn làng Khách Gia của bánh tráng Tân Phủ và bông chè Bắc Phố
- Dân tộc (Hà Lạc, Khách Gia, người bản địa, người ngoài tỉnh, người nhập cư mới) (kỳ lạc, kiếp) — từ quy mô lớn hơn, xem cấu trúc cư ngụ ba dân tộc Hà Lạc-Khách Gia-người bản địa Tân Trúc
- Doanh nghiệp Đài Loan: TSMC (kỳ lạc, kiếp) — nhà máy Bảo Sơn giai đoạn hai 2 nanomet là động lực để dân số thành phố Trúc Bắc tăng gấp đôi ở khu vực Cao Tốc Trúc Bắc
- Công nghiệp bán dẫn (kỳ lạc, kiếp) — đường mở rộng nhà máy của Công viên Khoa học Tân Trúc xuyên tỉnh Tân Trúc, tỉnh Bảo Sơn, tỉnh Diêu Lạc
- Phân chia hành chính Đài Loan (kỳ lạc, kiếp) — 1875 lập tỉnh Tân Trúc, 1950 tách tỉnh thành phố, 1982 thành phố Tân Trúc lên thành phố cấp tỉnh, 1989 chuyển chính phủ tỉnh sang Trúc Bắc của lịch sử hành chính
Nguồn hình ảnh
Bài viết này sử dụng 5 bức ảnh với giấy phép CC từ Wikimedia Commons, hot-link từ máy chủ tải lên Wikimedia:
- Người hùng: Ảnh mặt trước miếu Bảo Trung Nghĩa Dân — Photo: Outlookxp, 2018-05-27, CC BY-SA 4.0. Ảnh mặt trước miếu Nghĩa Dân Tân Phủ, trung tâm tín ngưỡng Nghĩa Dân Khách Gia.
- Cảnh §1835: Tòa lâu Kiương Á Tân — Photo: Ckfhouse, CC BY-SA 4.0. Tòa lâu phong cách Baroque giả của hậu chiến huyện Bắc Phố, xây 1946-1949.
- Cảnh §Gió hạ ngụa: Bông chè Bắc Phố — Photo: Phủ Tổng Thống, 2023-04-09, CC BY 2.0. Trải nghiệm bông chè Khách Gia.
- Cảnh §Tu Mã Khố Tư: Smangus Giant Trees Cây gỗ khổng lồ Tu Mã Khố Tư — Photo: người đóng góp panoramio qua Wikimedia, CC BY 3.0. Quần cây gỗ đỏ khổng lồ Tu Mã Khố Tư, huyện Nhọn Thạch.
- Cảnh §1988: Hukou Old St Phố cổ Hồ Khẩu — Photo: Whhalbert, CC BY-SA 3.0. Những kiến trúc gạch đỏ phong cách La Mã Baroque phố cổ Hồ Khẩu thời kỳ Đại Chính.
- Cảnh §Kết thúc: Ga Nội Vạn — Photo: billy1125, 2016, CC BY 2.0. Ga cuối tuyến Nội Vạn, đại diện chuyển đổi du lịch của làng Khách Gia.
Các điều khoản cấp phép: CC BY 2.0 / CC BY 3.0 / CC BY-SA 3.0 / CC BY-SA 4.0.
Tài liệu tham khảo
- Khu tế lễ miếu Bảo Trung Nghĩa Dân và 15 liên zhuang — Wikipedia tiếng Trung — Năm Đạo Quang 15 (1835) xuất phát từ 13 liên zhuang tổ chức lễ tết Trung Nguyên, năm 1976 mở rộng thành 15 liên zhuang lớn tổ chức, bao quát ba tỉnh/thành phố Tân Trúc, Đào Viên, Tân Trúc 20 huyện/thành phố, lịch trình tổ chức lễ tết từ ngày 18 đến 20 tháng bảy âm lịch của ghi chép hoàn chỉnh.↩
- Lịch trình mở rộng nhà máy TSMC Bảo Sơn thế hệ thứ hai — Báo cáo — Thông báo khu vực nhà máy Bảo Sơn thế hệ thứ hai TSMC chính thức và báo cáo liên quan, bao gồm lịch trình khởi công 2023, dự kiến sản xuất 2026, bốn nhà máy chíp 12 inch là động lực tăng trưởng dân số chính của vùng Trúc Bắc-Bảo Sơn.↩
- Sự kiện Lâm Sảng Văn — Wikipedia tiếng Trung — Quá trình chi tiết năm Càn Long 51 (1786) Lâm Sảng Văn nổi dậy chống Thanh ở Chương Hóa Đại Lý Dược, năm tiếp theo đầu năm sứ tướng Vương Tác dẫn quân đi phía bắc, tấn công chiếm Trúc Tuyến Thành.↩
- Tín ngưỡng Nghĩa Dân — Bảo vệ Gia Đình StoryStudio — Báo cáo sâu sắc về tín ngưỡng Nghĩa Dân từ Bảo vệ Gia Đình StoryStudio, bao gồm "sự kiện Lâm Sảng Văn, khoảng 200 người Nghĩa Dân Quảng Đông Trúc Tuyến thiệt mạng trong chiến đấu" văn bản gốc.↩
- Tính nhớ thu hoạch tử thể miếu Nghĩa Dân Tân Phủ — Wikipedia và địa phương chí — Tài liệu khác đề cập rằng "những chiếc xe bò đã thu hoạch gần ba trăm bộ xương dọc theo đường chiến trường", có thể bao gồm những người chết ở hậu cứ, hai con số được trình bày song song là phạm vi hợp lý.↩
- Trao tặng bảng Bảo Trung cho Nghĩa Dân Quảng Đông — Wikipedia miếu Bảo Trung Nghĩa Dân — Văn bản gốc: "Năm Càn Long 52 (1787), sau khi sự kiện Lâm Sảng Văn được bình định, Thanh Cao Tông Càn Long Đế trao tặng bảng 'Bảo Trung' cho nhóm Nghĩa Dân Quảng Đông".↩
- Ba giai đoạn thời gian từ khởi công đến hoàn thành miếu Nghĩa Dân — Wikipedia miếu Bảo Trung Nghĩa Dân — Văn bản gốc: "Năm Càn Long 53 (1788) mùa đông khởi công phá đất trước mộ, đến năm 55 (1790) mùa đông, công trình chính hoàn thành" + 1791 toàn bộ miếu hoàn tất. Ba giai đoạn thời gian là trục thời gian chính xác của lịch sử miếu Nghĩa Dân, "1788 hoàn thành" là cách viết gọn không chính xác thường thấy.↩
- Ngày Tết Nghĩa Dân — Wikipedia — Lịch trình tế lễ Ngày Nghĩa Dân từ ngày 18 đến 20 tháng bảy âm lịch, ngày 20 là Ngày Nghĩa Dân là quy định thời gian chính thức.↩
- So sánh tín ngưỡng Nghĩa Dân Khách Gia Đài Loan — Wikipedia — Tự Đôi Trung Nghĩa Từ Bình Đông nguồn gốc từ năm 1721 cuộc nổi dậy Chu Nhất Quý, miếu Nghĩa Dân Bắc Miêu Diêu Lạc cùng nguồn gốc từ năm 1786 cuộc nổi dậy Lâm Sảng Văn, khu vực Tân Trúc Phương Liêu Bảo Trung miếu vòng kính tế lễ lớn nhất ba tỉnh/thành phố 15 liên zhuang tổ chức của phổ lục tín ngưỡng Nghĩa Dân Khách Gia Đài Loan.↩
- Vương Thế Kiệt và Long Ân Tuyền — Tài liệu Tân Trúc mới — Vương Thế Kiệt (1661-1721), quê quán Kim Môn, từ khoảng 1711 bắt đầu lập địa vùng Trúc Tuyến Phố, năm 1718 hoàn thành hệ thống tưới tiêu 400 mẫu (sau gọi là Long Ân Tuyền). "1718 lập địa" ghi chép thông thường không chính xác, nên là "1711 bắt đầu lập địa / 1718 Long Ân Tuyền hoàn thành" hai mốc thời gian.↩
- Thành lập Kim Quảng Phúc Công Quán — Quỹ Sử Liệu Đài Loan Ngô Tam Liên — Năm Đạo Quang 14 (1834) tháng 12 Lý Tự Duệ cấp tiền một ngàn đồng lệnh Kiương Tú Loan xây 15 chiếc tiền sảo, tuyển 160 người tuần sảo; năm Đạo Quang 15 (1835) tháng 2, lệnh Hà Lạc Lâm Đức Tu, Chu Bang Chính hợp tác với Khách Gia Kiương Tú Loan lập "Kim Quảng Phúc Tổng Khán Hộ", Hà Lạc Khách Gia mỗi bên vốn 12.600 đồng của ghi chép chi tiết.↩
- Chia công Kim Quảng Phúc Hà Lạc Khách Gia — Quỹ Sử Liệu Đài Loan Ngô Tam Liên — Văn bản gốc: "Chu phụ trách vận hành lập kế hoạch và thương lượng công việc, Kiương thì đóng trạm hiệp và tham gia lập địa". Hà Lạc phụ trách thành phố công vụ, Khách Gia đóng trạm núi giám sát, một mô hình chia công lập địa Hà Lạc-Khách Gia hiếm hoi ở thời kỳ Thanh Đài Loan.↩
- Định vị lịch sử Kim Quảng Phúc — Quỹ Sử Liệu Đài Loan Ngô Tam Liên — Văn bản gốc: "Thành lập Kim Quảng Phúc là lần tiến công từ phòng thủ của các ông tổ, thay đổi từ phòng chống thụ động thành lập địa tích cực, là nơi khởi đầu, cũng là ví dụ hiếm hoi về hợp tác Hà Lạc-Khách Gia, và hơn nữa là người kết thúc lập địa nội địa khu vực Tân Trúc". 1835-1886 khoảng 52 năm lịch sử lập địa hợp tác Hà Lạc-Khách Gia.↩
- Bắc Phố: Giữ vững ký ức quê hương trong dòng lịch sử — Tạp chí VERSE — Báo cáo sâu sắc Bắc Phố của tạp chí VERSE, bao gồm "trên khu phố cũ nhỏ nhắn, lại có tới bảy tòa cổ tích và công trình lịch sử" từ tạp chí VERSE, người truyền thừa thanh nhạc tám âm Bành Tuấn Dương "miễn là tôi còn sống, thanh nhạc tám âm sẽ không bao giờ bị đứt" lời gốc.↩
- Kiến trúc Kim Quảng Phúc Công Quán — Bộ Văn hóa Mạng lưới Tài sản Văn hóa Quốc gia — Cổ tích quốc gia Kim Quảng Phúc Công Quán, công bố chỉ định cấp một năm 1983, kiến trúc hai tiền sân một viên bốn khe, tòa lâu ngoài phải năm 1935 sau trận động đất Tân Trúc-Đài Trung xây lại thành kiến trúc Nhật, tòa lâu ngoài trái duy trì kiến trúc thời Thanh của ghi chép kiến trúc chi tiết.↩
- Lịch sử xây dựng tòa lâu Kiương Á Tân — Sở Văn hóa Tân Trúc — Kiương Á Tân (tên chữ Mục Hỷ) là thế hệ thứ sáu của Kiương Tú Loan thủ lĩnh Kim Quảng Phúc, kinh doanh trà từ những năm 1930 thời Nhật, nhận hỗ trợ Tam Quả Nông Lâm, sở hữu nhiều nhà máy trà. Năm 1946 (dân quốc 35) sáng lập công ty Vĩnh Quang bắt đầu xây tòa lâu, năm 1949 (dân quốc 38) hoàn thành của ghi chép chính thức. Phong cách Baroque giả tây phương kết hợp thương mại, năm 2001 công bố cấp độ cổ tích tỉnh, năm 2012 người thừa kế gộp vốn mua lại, năm 2021 trở thành địa điểm quay phim truyền hình "Trà Vàng". Thường bị nhầm với công trình thời kỳ Nhật chiếm đóng, thực tế là chứng minh của thời kỳ hưng thịnh trà thế hệ thứ hai hậu chiến.↩
- Khí hậu gió hạ ngụa Tân Trúc — Cục Khí tượng Trung ương và dữ liệu chính phủ tỉnh Tân Trúc — Gió hạ ngụa hình thành ở phía tây nam dãy núi Tuyết Sơn, gò đồi Hương Sơn, cao nguyên Hồ Khẩu bao quanh một vùng đất lầu thấp kiểu kèn trombone, gió mùa đông bắc vào bị địa hình ấn chặt, mỗi năm từ khoảng mồng 20 tháng chín âm lịch (khoảng giữa tháng 10 dương lịch) bắt đầu, tốc độ gió có thể tới 20 mét trên giây.↩
- Bánh diếc Tân Phủ và gió hạ ngụa — Dữ liệu du lịch chính phủ tỉnh Tân Trúc — Công nghiệp bánh diếc Tân Phủ vùng Hoang Khảm lịch sử 170 năm trở lên, phơi tháng 9-12, quá trình 7-9 ngày (tước cuống, bóc vỏ, phơi nắng, thổi khô, định hình). Sắn Quán Tây chiếm hơn 60% sản lượng sắn toàn quốc (Cục Nông ngành "khoảng 80%", nguồn khác "60%", diễn đạt bảo thủ dùng "hơn 60%").↩
- Phố bánh tráng Tân Phủ — Dữ liệu quan du lịch Tân Trúc — Khu Trung Chính, phố Hoà Bình, phố Thành Công của Tân Phủ tập trung hơn 200 tiệm bánh tráng, có lời nói "Bắc là Tân Phủ, Nam là Mỹ Nông", là hai đại diện bánh tráng Khách Gia của Đài Loan.↩
- Quá trình làm trà Nhân Hướng Mỹ Nhân — Trạm Cải Lương Công Nghiệp Trà Đài Loan — Trà Nhân Hướng Mỹ Nhân (Bắc Phố gọi là trà phồng gió, Nga Nhĩ gọi là trà Nhân Hướng Mỹ Nhân) quá trình làm trà chứa: lá trà trước tiên phải bị ấu trùng côn trùng xanh nhỏ thích, hình thành "chứa ấu trùng" trà xanh, lá sản sinh hương mật ong đặc biệt và hương quả chín; không thể phun thuốc diệt cỏ (phun thì ấu trùng chạy mất). Tiêu chuẩn mức độ lên men Trạm Cải Lương Công Nghiệp Trà Đài Loan 60%, nông dân Tân Trúc Diêu Lạc thực tế phiên bản 75-85%.↩
- Truyền thuyết Hoàng Hậu Tây Tòa và trà phồng gió — Tài liệu ngành trà — Nguồn gốc tên trà được truyền đạt là nông dân đem vào thành phố bán bị cửa hàng nước ngoài mua hết, người làng cảm thấy nông dân đang "phồng gió" (tiếng Khách Gia "nói dối"). Sau đó câu chuyện "thương nhân Anh đem trà phồng gió từ Nhà Máy Tuỳ Xương Bắc Phủ dâng cho Hoàng Hậu Tây Tòa" lưu truyền rộng rãi, nhưng tài liệu gốc về việc Hoàng Hậu Tây Tòa thưởng trà không rõ ràng, có thể để ghi như câu chuyện văn hóa, nhưng không thể viết thành sự kiện lịch sử.↩
- Dân số tộc Tái Hạ và tộc Thái Nhạn Tân Trúc — Ủy ban Dân tộc Nguyên thủ — Dân số tộc Tái Hạ Tân Trúc 1.560 người (cư ngụ tại làng Đại Ái và làng Hoa Viên huyện Ngũ Phong), dân số tộc Thái Nhạn 15.876 người (chiếm khoảng 18.66% dân số toàn tỉnh tộc Thái Nhạn, chủ yếu ở huyện Nhọn Thạch). Năm 2014 thống kê dân số tộc Tái Hạ toàn quốc khoảng 6.352 người.↩
- Khu vực phát triển văn hóa Khách Gia — Ủy ban Khách Gia — Năm 2010, Ủy ban Khách Gia công bố lần đầu tiên khu vực phát triển văn hóa Khách Gia Tân Trúc là 11 huyện/thành phố (thành phố Trúc Bắc, huyện Trúc Đông, huyện Tân Phủ, huyện Quán Tây, huyện Hồ Khẩu, huyện Tân Dục, huyện Cung Lâm, huyện Hoàng Sơn, huyện Bắc Phố, huyện Bảo Sơn, huyện Nga Nhĩ). Huyện Ngũ Phong, huyện Nhọn Thạch vì huyện vùng núi, tự trị dân tộc nguyên thủ không được listed.↩
- Lịch sử bộ lạc Tu Mã Khố Tư — Trang web chính thức Tu Mã Khố Tư — Tu Mã Khố Tư (tiếng Thái Nhạn Qalang Smangus) nằm ở làng Ngọc Phong huyện Nhọn Thạch, độ cao khoảng 1.500 mét, năm 1979 mới có cung cấp điện. Là một trong những bộ lạc nguyên thủ xa xôi nhất toàn Đài Loan.↩
- Khám phá thần cây Tu Mã Khố Tư — Trang web chính thức Tu Mã Khố Tư — Năm 1991, thủ lĩnh Icyeh-Sulung (Ỷ Nhạn Tư Long) mơ thấy lời thần ở Ba Lăng, quay lại sau đó kể với bộ lạc đi tìm gỗ đỏ. "Cũng như những vị tổ tiên đã dặn dò, họ tìm thấy những cây gỗ đỏ khổng lồ lớn nhất trong rừng gỗ". Cây gỗ đỏ lớn thứ hai, thứ ba của Đài Loan đều ở khu vực thần cây Tu Mã Khố Tư.↩
- Đường giao thông bộ lạc Tu Mã Khố Tư được mở — Trang web chính thức Tu Mã Khố Tư — Văn bản gốc: "Tháng 6 năm 1995, đường giao thông bộ lạc được mở, Tu Mã Khố Tư chính thức liên hệ với toàn bộ xã hội". Từ cung cấp điện (1979) đến khám phá thần cây (1991) đến đường thông (1995) của trục thời gian các mốc chứa chứa.↩
- Đại hội bộ lạc Tnunan Tu Mã Khố Tư — Trang web chính thức Tu Mã Khố Tư — Văn bản gốc: "Từ năm 2001, những thành viên bộ lạc bắt đầu thiết lập khung cơ cấu quản lý chung, năm 2004 thành lập Tnunan (đại hội bộ lạc), lấy sức mạnh tập thể làm cơ sở, thực hành 'đất đai tài sản chung, hợp tác sống chung' giá trị sống".↩
- Cộng đồng Hợp tác xã: Tái sinh Tu Mã Khố Tư — Tạp chí Quang Hoa Đài Loan — Tạp chí Quang Hoa Đài Loan bản tiếng Anh dẫn lời người bộ lạc gốc: "In the past, when indigenous people returned from the hunt, they would generously share the meat of the mountain boar with everyone. Now we are sharing the land, taking this culture of sharing to its extreme."↩
- Cuộc kháng cáo bộ lạc Chân Tây Pho bảo vệ rừng gỗ — Báo cáo liên quan huyện Nhọn Thạch — Năm 1986, những cư dân bộ lạc Chân Tây Pho và Tân Quang kịch liệt kháng cáo, ngăn chặn Cục Lâm Lâm phủ phá rừng gỗ điều gần đó, ý thức truyền thống nguyên thủ kết hợp quan niệm tài sản bộ lạc cộng chủ trương quyền đất đai ưu tiên hơn quốc gia bảo vệ được rừng gỗ lân cận.↩
- Lễ tiền thần tộc Tái Hạ Ba Tư Đạt Ái paSta'ay — Chính phủ tỉnh Diêu Lạc — Tộc Tái Hạ lấy núi Nga Công Kế làm ranh giới chia thành bắc quần (huyện Ngũ Phong Tân Trúc) và nam quần (huyện Nam Trang, huyện Sư Đàng Diêu Lạc), mỗi hai năm tổ chức một lần, mỗi mười năm tổ chức lễ lớn. Sân tế bắc huyện Ngũ Phong xã Đại Ái làng Chu gia, sân tế nam Diêu Lạc hướng Thiên Hồ. Năm 2013 Bộ Văn hóa công bố là dân tộc học quan trọng quốc gia. Mục đích lễ tế "chuộc tội và hoà giải" — xin lỗi tiền thần, nếu dân tộc không trung thực tổ chức sẽ bị nguyền rủa mất con em.↩
- Lịch sử thiết lập tỉnh Tân Trúc — Trang web chính thức chính phủ tỉnh Tân Trúc — Năm 1 Quang Tự (1875), tỉnh Tấm Thủy được tách ra lập tỉnh Tân Trúc và tỉnh Tấm Thủy, Trúc Tuyến được đổi tên thành "Tân Trúc". Năm 5 Quang Tự (1879) viên chính quyền tỉnh đầu tiên nhậm chức sau có vận hành thực tế. Chính phủ tỉnh Tân Trúc tính toán chính thức thiết lập tỉnh được 140 năm chỉ tới năm 2019, lấy 1879 làm điểm bắt đầu.↩
- Tách tỉnh thành phố Tân Trúc năm 1982 — Chính phủ tỉnh Tân Trúc — Dân quốc 71 năm (1982) tháng 6 Tổng Thống phê chuẩn tách tỉnh Tân Trúc và thành phố Tân Trúc, ngày 1 tháng 7 từ lúc ấy khu vực "thành phố Tân Trúc" ban đầu trở thành thành phố cấp tỉnh độc lập, chính phủ tỉnh Tân Trúc phải tìm một nơi khác làm trụ sở.↩
- Cuộc tranh chấp chọn nơi trụ sở tỉnh Tân Trúc — Medium Khóe Lạ Thoại — Medium "Khóe Lạ Thoại" sâu sắc tóm tắt quá trình tranh chấp nơi trụ sở năm 1982: Hội đồng tỉnh 42 ủy viên Trúc Bắc giành được 15 chữ ký liên đới nhiều nhất, Trúc Đông giành được ủy viên tỉnh ủy đa số hỗ trợ (trong 15 người 12 người). Từng thống đốc Trần Tiến Hưng lời gốc: "15 ủy viên tỉnh ủy có 12 người hỗ trợ ở Trúc Đông, tôi xem xét yếu tố phát triển đề nghị chọn Trúc Bắc". Ngày 1 tháng 3 năm 1982 được xác định.↩
- Chính quyền tỉnh dời Trúc Bắc — Chính phủ tỉnh Tân Trúc — Dân quốc 77 năm (1988) Trúc Bắc lên thành phố tỉnh, Dân quốc 78 năm (1989) chính quyền tỉnh hoàn thành chuyển sang Trúc Bắc. Medium khác có "năm 1988 chính quyền tỉnh chính thức dời sang Trúc Bắc" cách nói, 1988 là chuẩn bị hành chính, 1989 là vận hành chính thức, chính phủ tỉnh Tân Trúc chính thức hoạt động lấy 1989 làm năm dời.↩
- Thống kê dân số thành phố Trúc Bắc — Sở Dân chính hạt Tân Trúc — Ga Cao Tốc Tân Trúc (ga Lục Gia) ngày 5 tháng 1 năm 2007 khởi động. Dân số thành phố Trúc Bắc năm 2007 khoảng 1,2 triệu người, năm 2025 tháng 9 cuối cùng 220.662 người, 18 năm dân số tăng gấp đôi. Dân số tỉnh Tân Trúc năm 2025 khoảng 5,7 triệu người.↩
- Trúc Bắc có thu nhập bình quân toàn quốc thứ nhất — Chính phủ tỉnh Tân Trúc — Năm 2024, chính phủ tỉnh Tân Trúc công bố chính thức: thành phố Trúc Bắc với tổng thu nhập bình quân 1.442 triệu đồng và thu nhập trung vị 857.000 đồng, trong 368 đơn vị hành chính quốc gia cả hai chỉ số đều giành được vị trí thứ nhất. Cách Công viên Khoa học Tân Trúc khoảng 10 phút đi xe, "có khả năng hút một lượng lớn những người có thu nhập cao từ Công viên Khoa học Tân Trúc".↩
- Giá nhà Trúc Bắc chưa bao giờ giảm — Tạp chí Thiên Hạ — Báo cáo sâu sắc giá nhà Trúc Bắc của tạp chí Thiên Hạ, dẫn lời cư dân địa phương Trúc Bắc, lái xe taxi, nhà phát triển bất động sản "giá nhà Trúc Bắc chưa bao giờ giảm" đồng thuận.↩
- Điều tra dân số Khách Gia toàn quốc năm 110 — Quỹ Truyền thông Công Khách Gia — Viện hành chính Ủy ban Khách Gia năm 110 (2021) điều tra dân số Khách Gia toàn quốc: Tân Trúc 67.8% (cao nhất toàn quốc), Diêu Lạc 62.5%, Đào Viên 39.9%, Hoa Liên 34.2%, thành phố Tân Trúc 30.3%. Dân số Khách Gia toàn quốc 4.669 triệu người chiếm 19.8%.↩
- Tỷ lệ chọn học tiếng Khách Gia Tân Trúc 47.35% — Bình luận Tự do — Bình luận Tự do dẫn "tỷ lệ người Khách Gia Tân Trúc từ những ngày đầu 85%, đến năm năm trước 73.6%, hiện nay chọn học tiếng Khách Gia ở trường 47.35%" ba tỷ lệ. Sự khác biệt của ba con số phản ánh "tự xác nhận danh tính" so với "độ thành thạo ngôn ngữ" so với "chọn học tiếng Khách Gia ở trường" là đo lường những tầng khác nhau. Năm 110 là 67.8% "xác nhận là người Khách Gia" là con số chính thức và đáng tin cậy nhất, 47.35% là chỉ báo thất thoát ngôn ngữ thế hệ.↩
- Tranh chấp hợp nhất Tân Trúc lớn lên thành phố trực thuộc trung ương — Wikipedia và báo cáo liên quan — Năm 2021, thị trưởng thành phố Tân Trúc Lâm Trí Kiên đề xuất "hợp nhất Tân Trúc lớn lên thành phố trực thuộc trung ương", Tân Trúc 5,7 triệu người + thành phố Tân Trúc 4,5 triệu người = 10,2 triệu người, không đạt ngưỡng 12,5 triệu của thành phố trực thuộc trung ương. Năm 2022 cuối cùng không được thúc đẩy, nhưng cuộc thảo luận vẫn còn tiếp tục.↩