Sự lạc lõi nghề nghiệp của thế hệ trẻ Đài Loan: Dù học hành 16 năm, lời nói thường nghe nhất sau đại học là "Tôi không biết mình muốn làm gì"

Nghiên cứu của Hội Hỗ trợ Thiếu niên năm 2006 cho thấy ba năng lực mà người sử dụng lao động ưu tiên nhất là tinh thần làm việc tốt, khả năng chịu đựng áp lực và kỹ năng giao tiếp, trong khi giáo dục đại học tập trung vào kiến thức chuyên môn và kỹ thuật. Bộ Giáo dục đã bỏ ra 20 năm xây dựng nền tảng, điều chỉnh chỉ tiêu, triển khai chương trình, định nghĩa năng lực làm việc thay đổi tới bốn lần, sinh viên đại học vẫn vẫn đặt câu hỏi tương tự vào ngày ra trườ. Vấn đề có thể từng bốn năm chưa nằm ở chính các sinh viên.

Tóm tắt 30 giây: Giáo dục đại học ở Đài Loan tỷ lệ đang kỵ từ 26% năm 1994 lên đến 72% năm 2020, số lượng đại học từ 58 trường phát triển lên 140 trường. Hầu hết mỗi người trẻ đều có cơ hội vào đại học, nhưng câu hỏi thường được hỏi sau khi ra trường vẫn không thay đổi: "Tôi không biết mình muốn làm gì." Hai cuộc khảo sát toàn quốc của Hội Hỗ trợ Thiếu niên năm 2006 và Bộ Giáo dục năm 2009 đều phát hiện ra rằng người sử dụng lao động quan trọng nhất là "thái độ làm việc tốt" và "khả năng chịu đựng ổn định," trong khi hệ thống trường học tiếp tục đầu tư vào "kiến thức chuyên môn và kỹ thuật." Sự chênh lệch này kéo dài gần 20 năm, cho đến nay vẫn chưa được khắc phục.


Một sinh viên đại học và lôgic chọn môn học

Năm 2023, một giáo sư đại học ở Đài Loan mô tả một hiện tượng: tiêu chí chọn môn học của sinh viên ngày càng giống như người tiêu dùng lựa chọn hàng trên kệ1.

Khoá học này có hữu ích khi tìm việc không? Viết trên CV được không? Giáo sư có tính cách tốt không? Điểm số thế nào? Những câu hỏi này thay thế cho "Tôi thích gì" và "Kiến thức của lĩnh vực này sẽ thay đổi cách tôi nhìn nhận thế giới," trở thành yếu tố quyết định chính trong việc sinh viên chọn môn học cho học kỳ này.

Nhà sử học giáo dục Liểu Thành Ngọc chỉ ra, trong xu hướng gắn kết giáo dục và thị trường lao động theo chủ nghĩa tư bản hoá mới, "học tập" đã biến đổi từ sự khám phá và hiểu biết, thành một hình thức chuẩn bị cho việc làm. Sinh viên hiếm khi học với niềm đam mhi khám phá kiến thức, mục tiêu học tập đã lệch khỏi "kiến thức và hiểu biết phát triển tiềm năng hoặc chuyển hóa trong nhiều bối cảnh," chuyển sang "kỹ năng thể hiện trên thị trường lao động"1.

Mô tả này nghe như đang chỉ trích sinh viên vô ích. Nhưng nếu đưa góc nhìn xa hơn, nguyên nhân của vấn đề nằm ngoài sinh viên.


Đại học từ 58 trường thành 140 trường trong 30 năm

Ngày 10 tháng 4 năm 1994, Đài Loan đã trải qua cuộc biểu tình giáo dục lớn nhất sau khi chiến tranh. Hơn 20 tổ chức phi chính phủ thành lập "Liên hiệp 410 Thay đổi Giáo dục" tập trung trên đường phố, bốn yêu cầu chính gồm có "xây dựng nhiều trường đại học." Cùng năm tháng 9, Nhà nước thành lập "Ủy ban Thẩm vấn Cải cách Giáo dục" (Uỷ ban TGC), do nhà văn Nobel Liêu Gia Trệ chọn làm chủ tịch2.

Uỷ ban TGC trong vòng hai năm đã công bố bốn bản báo cáo tham khảo, cuối cùng vào tháng 12 năm 1996 công bố "Báo cáo tổng hợp về Cải cách Giáo dục." Trong đó, đề cập đến giáo dục cao học, quan điểm cốt lõi được tóm tắt bằng một từ được mượn từ kinh tế học: "giải phóng" (de-regulation)1.

"Giải phóng giáo dục" đầu tiên được đề xuất tại hội đồng Uỷ ban TGC lần thứ ba, từ đó trở thành khái niệm cốt lõi của cải cách. Bản báo cáo tham khảo đợt một viết trực tiếp: "Chính phủ giám sát giáo dục quá mức đã là một trong những yếu tố cản trở hiện đại hóa giáo dục lớn nhất, phổ biến nhất và sâu sắc nhất," giải phóng giáo dục là "công việc hàng đầu của cải cách giáo dục hiện tại"3.

Theo khung luận điệu này, vai trò của chính phủ chuyển từ "người quản lý" sang "nhà cung cấp và tạo dựng tài nguyên." Sự mở rộng số lượng đại học được khuyến khích doanh nghiệp tài chính dẫn dắt. Các biện pháp cụ thể bao gồm: tạm dừng thêm trường đại học công lập, khuyến khích tư nhân thành lập trường; chuyển đổi việc cấp phép trường đại học tư nhân từ "xác nhận" sang "báo trước"3.

Kết quả là số liệu bùng nổ. Số lượng trường thiệt học tăng gấp ba lần sau cải cách4, các trường đại học từ năm 1994 có 58 trường (đại học 23 trường, học viện 35 trường), trong 10 năm tăng gần ba lần, đến năm 2004 đạt 145 trường. Các trường đại học tư nhân từ năm 1994 có 26 trường tăng lên 94 trường vào năm 2020, tỷ lệ từ 44.8% lên 67.14%1.

Tỷ lệ sinh viên đang kỵ đại học từ 26.26% năm 1994, năm 1999 tăng lên 35.43%, đến năm 2004 vượt qua 53.2%, cuối cùng đạt 72.10% vào năm 2020, gấp 2.75 lần năm 19941.

Báo cáo thứ 7 "Giáo dục Đài Loan" trong hai phần "Giáo dục đại học" và "Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp" ghi nhận đầy đủ bối cảnh hệ thống mở rộng5. Dùng ngôn ngữ xã hội học giáo dục, Đài Loan trong vòng dưới 20 năm đã hoàn thành chuyển đổi giáo dục cao học từ "hình thức tài năng" sang "phổ cập." Tuy nhiên, lực động của quá trình chuyển đổi vẫn chủ yếu là do luật lịch sử thị trường hơn là triết lý giáo dục.

Thêm vào đó, sự phổ cập không mang lại công bằng. Người báo cáo trích dẫn nghiên cứu của Kinh tế học Đại học Đài Loan Linh Minh Nhân cho biết: "Càng có tiền, càng có khả năng con cái vào đại học," chính sách "chi phí thấp học phí cao cấp" của đại học quốc gia thực sự khiến các gia đình thu nhập cao được cung cấp nhiều tài nguyên công cộng hơn6. Người hưởng lợi từ sự mở rộng giáo dục đại học, thường không phải là cùng một nhóm người mà chính phủ khoe khoang đang hỗ trợ các nhóm yếu thế.


Nhu cầu của người sử dụng lao động và giáo dục trường học là hai việc khác nhau

Vào năm 2006, Ủy ban Hỗ trợ Thiếu niên của Nhà nước giao nhiệm vụ cho các nhà nghiên cứu như Trường Văn Minh Qích thực hiện nghiên cứu "Khả năng làm việc của sinh viên đại học tốt nghiệp." Nghiên cứu đồng thời hỏi cả sinh viên và người sử dụng lao động: Bạn cho rằng năng lực làm việc quan trọng nhất là gì7?

Kết quả đồng nhất nhưng hoàn toàn khác với hướng dạy ở trường học.

Hai cuộc khảo sát của Hội Hỗ trợ Thiếu niên trong năm 2006 và 2009 cho thấy ba năng lực làm việc quan trọng nhất của sinh viên và người sử dụng lao động gần như không thay đổi:

Xếp hạng Khảo sát 2006 Khảo sát 2009
1 Tinh thần làm việc tốt Tinh thần làm việc tốt
2 Khả năng chịu đựng ổn định Khả năng chịu đựng ổn định
3 Kỹ năng diễn đạt và giao tiếp Kỹ năng diễn đạt và giao tiếp

"Kiến thức chuyên môn và kỹ thuật" xuống vị trí 4 năm 2006, giảm xuống vị trí 7 năm 20097.

Nói cách khác, năng lực mà thị trường lao động cần nhất là những điều liên quan đến "cách người ta sống": tinh thần, khả năng chịu đựng, giao tiếp. Trong khi đó, hệ thống giáo dục chỉ thành công trong việc dạy kiến thức và kỹ thuật.

Nhà tư vấn và huấn luyện Nguyễn Thị Hương so sánh các khung năng lực làm việc của Hoa Kỳ, Canada, Anh Quốc, Úc và Liên minh Châu Âu, rút ra một quan sát cốt lõi: Các quốc gia khác có thể phân loại năng lực làm việc thành bốn loại: "Đặc tính cá nhân/tinh thần," "Học tập/tư duy," "Xã hội/người quan hệ" và "Phát triển sự nghiệp." Tuy nhiên, hệ thống giáo dục đại học do Bộ Giáo dục chủ đạo, rõ rệt chú trọng vào loại thứ hai, phản ánh sự thụ động của giáo dục đại học truyền thống chỉ truyền kiến thức khoa học7.

Thêm vào đó, chính phủ cũng thay đổi liên tục định nghĩa "năng lực làm việc." Từ "khả năng chung công nghiệp" (3 loại, 16 giờ học) năm 2005, đến "năng lực làm việc cốt lõi" của Hội Hỗ trợ Thiếu niên (8 mục), đến "chỉ số năng lực làm việc" của nền tảng luồng vận chuyển sinh viên Bộ Giáo dục năm 2009 (4 nhóm, 24 mục), cuối cùng đến "năng lực làm việc chung" của nền tảng chẩn đoán năng lực làm việc trường đại học tư nhân UCAN năm 2011 (8 mục). Các phiên bản khác nhau về phân loại và tên mục tiêu đều không nhất quán, không rõ ràng về mối quan hệ tương ứng7.

Khi chính phủ cũng không rõ "năng lực làm việc" là gì, mong đợi trường học giáo dục nó, trở thành lời nói trống rỗng. Nhiều nhà nghiên cứu thẳng phát, chồi lên gần 30 năm cải cách giáo dục, trong đánh giá chính sách và nghiên cứu thiếu hụt nghiêm ngặt, nhiều biện pháp cải cách chưa được kiểm chứng hiệu quả thận trọng8.


Giáo dục đã trở thành trường đào tạo nghề nghiệp

Nguyên nhân của vấn đề này có thể truy vết về từ một từ được mượn từ kinh tế học trong báo cáo Uỷ ban TGC: "giải phóng."

Lãnh đạo của Liên hiệp 410 Thay đổi Giáo dục Huang Wu Xinh triển khai vào năm 1996, chỉ ra: "Lối chọn của cải cách giáo dục, thực sự là vấn đề tư tưởng." Nếu phân tích logic đằng sau quan điểm cải cách giáo dục, ta sẽ thấy nó thực sự bao bọc bởi ngôn từ tư bản hoá mới, thị trường, tư nhân hóa (privatization), hoá thành hàng, cạnh tranh, trách nhiệm hiệu suất và các khái niệm khác9.

Nghiên cứu phản biện giáo dục học đã phân tích hiện tượng này, cho thấy các thành viên của Uỷ ban TGC từ đầu đã bị chi phối bởi tư tưởng tư bản hoá mới. Các chính sách cải cách giáo dục dựa trên khái niệm "giải phóng" (giảm kiểm duyệt) thực sự hợp pháp hóa chủ nghĩa thương mại hóa kiến thức và quản lý công mới, khiến các bên cạnh tranh khác trong lĩnh vực cải cách giáo dục (các hội chuyng môn giáo dục, sinh viên, giáo viên, phụ huynh) không có cơ hội chống lại1.

Một trong những hệ quả là "hóa học hóa học tập." Theo logic tư bản hoá mới, giáo dục và thị trường được gắn kết, "vào trường là để làm việc" và "giáo dục là để chuẩn bị cho việc được thuê vào tương lai" đã trở thành quan điểm tự nhiên. Lý do tồn tại của đại học từ thời xưa đã thay đổi từ việc rèn luyện người có tâm trí rộng lớn, kiến thức và hiểu biết, thành việc nắm quen các khả năng quan trọng cho doanh nghiệp trên thị trường lao động. "Khoảng cách giữa giáo dục và sử dụng lao động" có nguồn gốc từ đây1.

Giroux trong một buổi phỏng vấn đưa ra một cảnh báo sắc nhọn:

Đại học sẽ trở thành một máy móc hình thức thành một nền tảng chuẩn bị thay vì giáo dục, dẫn đến giết chết hơn cả việc rèn luyện tưởng nhớ họa.10


Mười chỉ tiêu không giải quyết được vấn đề

Vào năm 2010, một buổi thảo luận điểm đến do 9 nhà nghiên cứu chuyên môn tham gia, qua 2.5 giờ thảo luận, rút ra 10 chỉ tiêu năng lực làm việc cốt lõi bản địa: diễn đạt giao tiếp, giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm, học tập suốt đời, quản lý bản thân, sáng tạo và phản ứng, ứng dụng công nghệ, lập kế hoạch sự nghiệp, nhận thức thị trường lao động, quốc tế và vĩ mô7. Bộ khung này dựa trên "đặc tính cá nhân/tinh thần" làm cơ sở, hai trụ cột là "học tập/tư duy" và "xã hội/người quan hệ," kết nối với "phát triển sự nghiệp" để liên kết cá nhân và thị trường lao động.

Chỉ tiêu đã được xây dựng, nhưng giáo dục thực địa không theo kịp. Đại học vẫn bị kích thích bởi số lượng bài luận, xếp hạng quốc tế, nguồn lực cạnh tranh. Nâng học và duy trì công việc của giáo viên phụ thuộc vào sản phẩm nghiên cứu, không liên quan đến "học giáo viên có thể giao tiếp được với sinh viên." Hai cuộc khảo sát của Hội Hỗ trợ Thiếu niên năm 2006 và 2009 cho thấy ba mục quan trọng nhất của người sử dụng lao động vẫn là tinh thần làm việc tốt, khả năng chịu đựng, kỹ năng giao tiếp7. Ba năng lực này không có bất kỳ môn đại học nào bắt buộc.


Ba lớp gốc của vấn đề "Tôi không biết mình muốn làm gì"

Quay lại câu hỏi đầu tiên: Tại sao sinh viên đại học ở Đài Loan sau khi ra trường không biết mình muốn làm gì?

Câu trả lời nằm trong ba tầng.

Tầng đầu tiên: Giáo dục sự nghiệp từng không phải là bài giảng chính thức. Giáo dục trung học và trung học cấp hai ở Đài Loan không có môn học giáo dục sự nghiệp độc lập. Kế hoạch mới 108 đưa khám phá sự nghiệp vào "lĩnh vực hoạt động tổng hợp," thường bị ép xuống thành một học kỳ hai buổi lớp dạng chương trình do áp lực học tập. Khi sinh viên vào đại học, "tư vấn sự nghiệp" thuộc về phòng hỗ trợ sinh viên, không tính làm tiết, không phải bắt buộc. Khảo sát trong gia đình cho thấy hơn 50% sinh viên cho rằng quá trình học tập không có ảnh hưởng đáng kể đến khám phá sự nghiệp11.

**Tầng thứ hai: Trường học dạy "kỹ năng có thể bán được," nhưng bỏ qua "bạn là ai." Các quốc gia phương Tây trong vụ làm việc luôn đặt "đặc tính cá nhân/tinh thần" ở tầng dưới cùng: quản lý bản thân, tự tin bản thân, điều chỉnh áp lực, chủ động tích cực. Ngân sách giáo dục và số giờ học ở Đài Loan lại tập trung vào truyền đạt kiến thức và huấn luyện thi. Câu hỏi "Bạn muốn làm gì" từ sớm đến già, không có bài học nào chân thành xử lý7.

Tầng thứ ba: Mục đích giáo dục bị thay thế bằng thị trường. Aronowitz trong "Nhà máy kiến thức" kêu gọi, đại học nên cung cấp cho sinh viên "học tập cao cấp thực sự" (true higher learning), để họ phát triển tiềm năng trong nhiều bối cảnh12. Nhưng logic tư bản hoá đã biến đại học thành trường đào tạo nghề nghiệp. Vào năm 2024, mức lương khởi điểm trung bình của sinh viên đại học ở Đài Loan vẫn dao động khoảng 30.000 nhân dân tệ, chênh lệch thưởng từ bằng đại học vẫn giảm dần. Sinh viên đã học hành 16 năm, ra trường phát hiện mình không biết mình muốn làm gì và không học được những gì người sử dụng lao động quan tâm.

Vào năm 2022, con số sinh viên mới ở Đài Loan giảm xuống 138.986 người, tỷ lệ sinh ra chỉ khoảng 1.08, là một trong những quốc gia có tỷ lệ sinh ra thấp nhất thế giới (theo thống kê của Bộ Kinh tế). Thị trường đại học đang suy giảm, các trường đại học tư nhân bắt đầu rút lui. Khi một trường đại học phải đáp ứng câu hỏi "Sinh viên tại sao nên chọn bạn," có lẽ đây là thời điểm để nhắc lại mục đích giáo dục: giúp một người 20 tuổi biết mình là ai, muốn gì, và trong khi đó, câu hỏi nào quan trọng hơn: giúp họ biết một kỹ năng có thể bán được, hay giúp họ hiểu bản thân?


Tài liệu tham khảo

  1. Liêu Thành Ngọc (2023). Tổng quan 30 năm cải cách giáo dục đại học ở Đài Loan: Tác động và phản biện của tư bản hoá mới. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 69(4), 1-39 — Tạp chí TSSCI. Bao gồm bảng biến đổi số lượng đại học, số liệu tỷ lệ đăng ký, phân tích phản biện tác động của tư bản hoá mới đối với giáo dục đại học
  2. Ủy ban Thẩm vấn Cải cách Giáo dục của Nhà nước (1996). Báo cáo tổng hợp về Cải cách Giáo dục — Bài viết Wikipedia chứa thời gian hoạt động, chủ tịch, tám điểm chính
  3. Ủy ban Thẩm vấn Cải cách Giáo dục của Nhà nước (1995a). Báo cáo tham khảo đợt một; (1996b). Báo cáo tham khảo đợt bốn; (1996c). Báo cáo tổng hợp về Cải cách Giáo dục — Các tài liệu chính sách về "giải phóng giáo dục," "xây dựng đại học," "báo trước"
  4. Sau 20 năm cải cách, số lượng trường thiệt học tăng gấp ba lần? — Tạp chí Hiển nhiên, Chen Xin Youu, 2017. Số liệu thị trường giáo dục và hậu quả của sự mở rộng đại học
  5. Bộ Giáo dục (2012). Tứ đại học năm thứ 7 của Nhân dân Cộng hòa Trung Hoa, các phần "Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp" và "Giáo dục đại học." Bộ Giáo dục — Vật liệu chính thức, bao gồm chính sách tạo nguồn năng lực cho hệ thống kỹ thuật và nghề nghiệp, kế hoạch dài hạn giáo dục đại học
  6. 【Số liệu nói nên vấn đề】Giáo dục có thể chuyển đổi cuộc đời không — Sự chuyển đổi ngược lại của đại học — Báo Tờ, 2018. Nghiên cứu Linh Minh Nhân: Càng có tiền, càng có khả năng con cái vào đại học
  7. Nguyễn Thị Hương (2012). Nghiên cứu nội dung về năng lực làm việc, năng lực sử dụng lao động và năng lực thị trường lao động của sinh viên đại học. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Hiện đại, 20(2), 1-45 — Tạp chí TSSCI. Bao gồm số liệu khảo sát Hội Hỗ trợ Thiếu niên, so sánh năng lực làm việc các quốc gia, khung năng lực làm việc bản địa
  8. Trong 30 năm cải cách giáo dục, các khoảng trống trong đánh giá chính sách là gì? — Mạng xã hội Phản biện, Lee Nhat Trung, 2019. Phản biện hệ thống thiếu hụt đánh giá cải cách giáo dục
  9. Huang Wu Xinh (1996). Tái cấu trúc giáo dục Đài Loan: Đối mặt với các vấn đề cấu trúc hiện tại. Xuất bản Tuyên truyền — Phân tích chủ đề tư tưởng của lãnh đạo Liên hiệp 410 Thay đổi Giáo dục về lối mạnh cải cách giáo dục
  10. Giáo dục đại học và súc vị tư bản hoá mới: Một buổi phỏng vấn với Henry Giroux — Giroux, H. A., & Samalavicius, A. (2016)
  11. Chuỗi chương trình 108 mới: Khởi động cải cách giáo dục trong 10 năm tới — Cha mẹ trên mạng/Giáo dục luân chuyển, bao gồm khảo sát giáo viên và đánh giá của sinh viên về quá trình học tập
  12. Nhà máy kiến thức: Phá bỏ đại học doanh nghiệp và tạo ra học tập cao cấp thực sự — Aronowitz, S. (2000). Beacon Press — Nguồn gốc khái niệm "nhà máy kiến thức," phản biện doanh nghiệp hóa đại học
Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
Tình trạng thiếu hụt năng lực Lạc lõi nghề nghiệp Năng lực làm việc Cải cách giáo dục Giáo dục đại học Khoảng cách giữa giáo dục và sử dụng lao động Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp Tư bản hoá mới
Chia sẻ

Đọc thêm

Có thể bạn cũng muốn đọc

Xã hội

Tiểu sử và hiện tại của phòng tư vấn trường học ở Đài Loan: Từ "chỉ dành cho những người có vấn đề" đến "mọi người đều cần nhưng không đủ"

Năm 2014, Đài Loan thông qua Luật Tư vấn Học sinh, yêu cầu các trường học trên cấp độ khác nhau cung cấp nhân lực tư vấn chuyên nghiệp. Tuy nhiên, sau mười năm, lỗ hổng nhân lực của giáo viên tư vấn vẫn chưa được điền đầy, hội đồng tư vấn tâm lý không thể phục vụ liên tục bằng cách tuần dịch, khiến học sinh sợ hãi đến phòng tư vấn vì bị gắn nhãn. Một giáo viên tư vấn từng nhận giải "Super Teacher", vì "một đứa trẻ mà không thể cứu được" đã trở thành người cầu cứu tư vấn tâm lý. Hệ thống tư vấn trường học của Đài Loan đang đứng trên ngã rẽ của Mỹ, đã đi qua sáu mươi năm chuyển đổi.

閱讀全文
Xã hội

Hệ thống giáo dục và văn hóa thi cử

Từ kỳ thi đại học thống nhất đến giáo dục phổ thông 12 năm, cách giáo dục Đài Loan tìm kiếm sự cân bằng giữa cạnh tranh và đa dạng

閱讀全文
Xã hội

Nghèo học tập: Ngồi trong lớp nhưng chẳng học được gì

Ngân hàng Thế giới đưa ra thuật ngữ mới 'Nghèo học tập' (Learning Poverty) vào năm 2019 để mô tả một vấn đề khó nhận diện hơn cả tình trạng thất học: một đứa trẻ 10 tuổi ngày nào cũng đến trường đúng giờ, ngoan ngoãn ngồi yên, nộp bài tập đầy đủ nhưng lại không thể đọc hiểu một câu chuyện đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Tháng 2 năm 2023, Ngân hàng Thế giới cập nhật tỷ lệ nghèo học tập toàn cầu vẫn duy trì ở mức 70%. Kết quả PISA 2022 của Đài Loan xếp vào top 5 thế giới, điểm toán của 20% học sinh yếu thế đã bắt kịp mức trung bình OECD, nhìn bề ngoài là một sự lật ngược ngoạn mục. Nhưng cùng báo cáo PISA đó cho thấy điểm toán khu vực đô thị 571 điểm so với vùng sâu vùng xa 517 điểm vẫn chênh lệch 54 điểm; khảo sát của Quỹ BoYou năm 2019 (108 năm) trên 13 trường trung học cơ sở vùng sâu cho thấy 6 trường có 70% học sinh tiếng Anh đạt loại C, 5 trường có 70% học sinh toán đạt loại C. Bản sắc Đài Loan của nghèo học tập ẩn náu trong khoảng cách này, và vẫn chưa được đo lường chính thức.

閱讀全文
Xã hội

Đài Loan đào tạo đạo đức đi đâu rồi: Một bài học bị hủy và 20 năm không ai nhận thừa trách nhiệm

Trước năm 1993, mỗi học sinh tiểu học ở Đài Loan mỗi tuần học “Đạo đức và sức khỏe”, mỗi học sinh trung học mỗi tuần học “Công dân và đạo đức”. Chương trình giáo dục 12 năm liền đã hủy hai môn này và “hòa nhập” đạo đức vào bảy lĩnh vực học tập. Kết quả là trong khoảng 60 trang mô tả chương trình lĩnh vực xã hội gần như không đề cập đến “đạo đức”, 78% giáo viên cho rằng cần tăng cường giáo dục đạo đức, nhưng không có giáo viên nào cảm thấy đây là trách nhiệm của mình.

閱讀全文