Tóm tắt 30 giây: Trong ví của bạn có thể từng có một đồng xu hai mươi ngàn, mặt trước đó là mặt của người Seediq Mó Na·Lũ Đạo. Ngày 27 tháng 10 năm 1930, ông dẫn người của sáu xã trong cuộc họp thể dục tại trường tiểu học công lập Wushe, tiêu diệt hơn một trăm người Nhật, cuối cùng tự sát bằng súng trong các hang đá ở sâu trong rừng, xương cốt được tìm thấy ba năm sau. Sau đó xương này trở thành mẫu vật nhân học gần bốn mươi năm, được ba chế độ chính trị viết lại thành "bằng chứng của sự man rợ" "anh hùng chống Nhật dân tộc Trung Hoa" "tinh thần độc lập của Đài Loan". Nhưng cái ông muốn trở thành là "Seediq Bale" trong tiếng Seediq, có nghĩa là "người thực thụ". Và thế giới mà ông dùng mạng sống để bảo vệ, không có Trung Quốc, cũng không có Nhật Bản.
Tháng 7 năm 2001, Ngân hàng Trung ương Đài Loan phát hành một đồng xu hai mươi ngàn mới. Hai màu, vòng ngoài vàng vòng trong bạc, mặt sau là chiếc ghe gỗ nước của người Atayal, mặt trước khắc một khuôn mặt nghiêng: lãnh đạo của sự kiện Wushe người Seediq, Mó Na·Lũ Đạo. Đây là đồng xu lưu thông đầu tiên của Đài Loan có chủ đề về người bản địa1.
Chỉ là đồng xu này có một khởi đầu khó xử. Khi nhân viên thiết kế muốn khắc mặt Mó Na lên khuôn đúc, họ mới phát hiện ra, tìm khắp tài liệu lịch sử trong nước, hoàn toàn không có một bức ảnh của ông. Cuối cùng, họ tìm thấy trong một tạp chí tiếng Nhật, nhân viên thiết kế mới dựa vào nó, từng nét một để khắc bức chân dung lên khuôn2.
Nói cách khác, anh hùng chống Nhật nổi tiếng nhất Đài Loan, khuôn mặt mà toàn quốc công dân nhận ra, lại được lôi ra từ ấn phẩm của người Nhật.
Còn có cái khó xử hơn. Đồng xu này lưu hành rất ít, ít đến nỗi nhiều người suốt cuộc đời chưa bao giờ nhìn thấy. Có người mang đi mua nước chấm, mua nước uống, chủ cửa hàng xem nó là tiền giả rồi từ chối nhận3. Một anh hùng được nhà nước khắc lên tiền xu, dùng để "thúc đẩy hòa hợp các cộng đồng dân tộc", nhưng chính đồng xu của ông lại không ai dám nhận.
Bài viết này muốn nói về cái gì đằng sau ba lớp khó xử này: một anh hùng chống Nhật được khắc lên tiền xu hai mươi ngàn, thế giới mà ông thực sự kháng cự không có Trung Quốc, cũng không có Nhật Bản.
📝 Ghi chú của người bảo tàng
Chúng ta thường đặt Mó Na·Lũ Đạo vào một cấu trúc câu: "Ông dẫn dắt người bản địa anh dũng chống Nhật." Câu này không sai, nhưng nó giả định một sân khấu, trên đó đứng "Nhật Bản" và "Trung Quốc" (hoặc "dân tộc Trung Hoa"), Mó Na chọn phía chống Nhật. Vấn đề là sân khấu này do những người sau này dựng lên. Năm 1930 khi Mó Na nâng súng, thế giới trong đầu ông cần phải bảo vệ hoàn toàn khác với sân khấu này. Hiểu rõ ông đang bảo vệ cái gì, mới thấy được tại sao đồng xu này lại mỉa mai như vậy.
Chiếc cầu mà ông muốn vượt qua, được gọi là cầu vồng
Để hiểu Mó Na·Lũ Đạo, bạn phải rời khỏi khung "chống Nhật", đi vào vũ trụ của người Seediq.
Mó Na·Lũ Đạo là thủ lĩnh của xã Maha Bô (Mehebu) trong nhóm Tgdaya (Tê Cố Đạt Dạ) của tộc Seediq, khoảng sinh năm 1880 (Wikipedia tiếng Trung Quốc và Anh), cũng có tài liệu ghi năm 1882 (Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Bộ Giáo dục). Ông không để lại bất kỳ hồ sơ hộ khẩu nào, thậm chí ngày sinh cũng có hai lời khai song hành4. Từ nhỏ đã nổi tiếng about anh dũng kế thừa vị trí thủ lĩnh, là người giàu nhất bộ tộc, giỏi chuyên môn xuống hạ. Về ngoại hình của ông, Wikipedia viết "cơ thể cao lớn bề ngoài, dự kiến chiều cao gần 190 cm", lưu ý hai chữ đó, "dự kiến". Chẳng ai bao giờ đo lường xương ông cả, chiều cao này là truyền thuyết, không phải sự thật5.
Trong thế giới của Mó Na, có một thứ gọi là Gaya. Nó là đạo huấn, luật lệ, quy chuẩn xã hội và điều cấm kỵ, dự kiến do các linh tổ (Utux) quyết định, không thể thay đổi. Cùng tế lễ, cùng cơi ổn định, cùng ăn, cùng tuân thủ các điều cấm kỵ, cùng gánh chịu hình phạt, những thứ này đều là nghĩa vụ tập thể được Gaya quy định6.
Gaya có một điểm, sau đó trở thành chìa khóa được hiểu lầm nhất trong sự kiện Wushe: xuống hạ (lấy đầu, trong tiếng Seediq là mgaya). Trong mắt người Hoa và người Nhật, xuống hạ chỉ là chặt đầu man rợ. Nhưng trong bối cảnh Seediq, ý nghĩa của nó phức tạp hơn nhiều so với bạo lực, liên quan đến báo thù, phán quyết thiêng liêng (dùng thành bại của việc lấy đầu để phân xử tranh chấp), cầu mong vụ thu hoạch, tưởng nhớ tổ tiên, cũng là tiêu chuẩn trưởng thành của nam giới7.
Và tất cả điều này đều kết nối với một chiếc cầu. Người Seediq tin rằng, sau khi chết người phải vượt qua một cầu vồng (Hakaw Utux), bên kia cầu là nơi các linh tổ cư trú. Trên cầu có một linh hồn hình cua (Utux Kalan) canh gác, sẽ kiểm tra tay bạn, chính xác hơn, kiểm tra vết henna trên mặt (Ptasan) của bạn. Nam giới phải lấy được đầu, nữ giới phải biết dệt may, mới đủ tư cách để vết henna trên mặt (Ptasan). Những người không có vết henna, không thể vượt qua cầu vồng, không thể đến chỗ tổ tiên8.

Vòng chân ngọc trai của Mó Na·Lũ Đạo, hiện giữ tại Bảo tàng Quốc gia Đài Loan. Ảnh:氏子, 2019. CC BY-SA 4.0 via Wikimedia Commons.
Vì vậy, khi người Nhật cấm xuống hạ, cấm vết henna trên mặt, họ cắt đứt vượt quá hai phong tục. Đối với người Seediq, đó là cắt đứt tư cách được gặp gỡ tổ tiên sau khi chết, là sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống bản sắc và ý nghĩa. Nhà nghiên cứu gốc Đài Loan Leo Ching (Kinh Tử Hương) gọi tình cảnh của người bản địa vùng thuộc địa là một loại "ràng buộc kép thuộc địa" (colonial double-bind): bị "dạy vặn" thành "nửa người văn minh", nhưng lại bị thực dân coi là man rợ mãi mãi, cả hai bên đều không chấp nhận9.
Trong tiếng Seediq có một từ, Seediq Bale, có nghĩa là "người thực thụ"10. Mó Na·Lũ Đạo muốn trở thành cái này: một người có vết henna trên mặt, chết rồi vượt qua được cầu vồng, sống thì giữ được Gaya. Chúng ta gọi ông là anh hùng sau này, nhưng vị trí "anh hùng" này, do những người khác sắp xếp cho ông. Cái ông canh giữ suốt cuộc đời, là vị trí "người thực thụ" này.
Sau này có một bộ phim gọi là "Seediq·Bale", quay lại thế giới của Mó Na một cách hùng vĩ. Nhưng những dòng đối thoại như "tế lễ máu cho tổ tiên" trong phim thực ra là do đạo diễn phát minh, tiếng Seediq hoàn toàn không có từ tương ứng, đây là điều mà chính cố vấn văn hóa Seediq của phim sau đó công khai chỉ ra11. Điều này nhắc nhở chúng ta một điều: ngay cả phiên bản mà chúng ta tưởng là "gần gũi nhất với Seediq" có thể cũng là người khác nói cho ông. Thế giới của Mó Na, từ đầu đến cuối rất khó để người ngoài có thể nói ra một cách chính xác.
Chiếc tay không sạch sẽ đó
Thập niên 1930 ở Wushe, trong mắt người Nhật là "vùng bản địa mẫu hình".
Sự kiểm soát của Nhật Bản đối với người bản địa Đài Loan đã đi qua một con đường từ mềm đến cứng. Đầu tiên là Cục Phát triển và Bình định, năm 1906 được chuyển do cảnh sát quản lý, từ năm 1910 đến 1915 thúc đẩy "Kế hoạch Lý bản năm năm", do Tổng đốc Tả Cửu Gian Tả Mã Đài dẫn đầu, với ngân sách khoảng 16,3 triệu yên Nhật, sử dụng quân đội và cảnh sát chinh phục. Từ năm 1915 trở đi hủy vũ khí người bản địa, tịch thu súng, sau đó bước vào giai đoạn đồng hóa, thiết lập các trường giáo dục vùng bản địa, trường tiểu học công lập, thúc đẩy tiếng Nhật, cấm xuống hạ, vết henna trên mặt, nhổ răng12.
Đến năm 1930, Wushe đã được phát triển thành một thị trấn tương đương với các thành phố Nhật Bản. Ngay cả nhà sử học sửa chữa Paul Barclay cũng phải thừa nhận, tỷ lệ người bản địa ở đây khoảng 95% có thể sử dụng tiếng Nhật đơn giản để giao tiếp với cảnh sát và giáo viên Nhật Bản13. Nhưng Barclay cũng nhắc nhở, dưới bề mặt mẫu hình này thực tế là một khu lạp lạnh do những người ngoại lai chủ yếu kiểm soát, sự yên tĩnh và lòng trung thành của cư dân địa phương chỉ có thể được coi là đáng ngờ14. Dưới bề mặt mẫu hình, sự phẫn nộ đang tích lũy.
Sự phẫn nộ có vài nguồn. Một là lao động cưỡng bách. Từ năm 1928 đến 1930, người bản địa khu vực Wushe đã được huy động chín lần để làm việc. Năm 1928 công trình xây dựng đền thờ, không chỉ bị khấu trừ tiền mặt cơm, mà còn bị buộc phải quyên góp. Tiền lương cũng không công bằng, người bản địa mỗi ngày nhận 20 đến 30 tiền, người Hoa thì có 60 tiền15.
Hai là một trường hợp hôn nhân vì lợi ích chính trị để lại nỗi xấu hổ. Cảnh sát Nhật Kondō Ghi Tam Lang đã lấy em gái của Mó Na là Điềm Uế Tư·Lũ Đạo, sau đó Kondō được chuyển sang Hoa Liên, rồi người đó biến mất (một lời khai nói là chuyển công tác, một lời nói là bỏ vợ), Điềm Uế Tư bị bỏ lại, và theo Gaya, một phụ nữ bị chồng bỏ không thể quay trở về nhà16. Barclay trong cuốn "Kondo the Barbarian" đã xác minh rằng "Kondō Ghi Tam Lang" này là anh em trai của một nhân vật lý bản quan trọng khác là Kondō Thắng Tam Lang17. Một cuộc hôn nhân được sắp xếp cho "lý bản bằng bản địa" đã trở thành một cái gai trong gia đình Mó Na.
Và cái thực sự châm ngòi, là một chiếc tay.
Ngày 7 tháng 10 năm 1930, con trai cả của Mó Na là Đạt Đa·Mó Na (Tado Mona) khi uống rượu với cảnh sát Nhật Cát Thôn Khắc Kỷ trong một bữa tiệc cưới. Đạt Đa vừa giết một con lợn, tay có máu thú. Cát Thôn nhận định "không sạch sẽ", không chỉ từ chối, mà còn dùng gậy cảnh sát đánh vào chiếc tay đang nâng chén rượu của Đạt Đa, cả hai bên xung đột với nhau, Cát Thôn bị thương18. Cách Wikipedia viết như thế này:
Thủ lĩnh Mó Na·Lũ Đạo con trai cả Đạt Đa·Mó Na muốnnâng chén rượu cho cho Cát Thôn, nhưng bị Cát Thôn vì "ghét chiếc bàn tiệc không sạch sẽ đó⋯⋯" từ chối, và dùng gậy cảnh sát đánh vào chiếc tay đang nâng chén rượu của Đạt Đa·Mó Na, cả hai bên vì vậy xung đột với nhau19.
Sau đó Mó Na dẫn người của ông, mang rượu đi xin lỗi, Cát Thôn không chấp nhận, còn dọa sẽ báo cáo. Theo luật Nhật, đánh bị cảnh sát là một tội nặng. Sự phẫn nộ mới cộng với sự phẫn nộ cũ, cộng thêm nỗi sợ bị thanh lý, Mó Na quyết định: Thay vì chờ bị giết sạch, không như khởi sự.
📝 Ghi chú của người bảo tàng
Sự kiện Wushe có ba cảnh sát Nhật, vai trò mỗi người khác nhau, đáng chú ý là phải ghi nhớ riêng: Cát Thôn Khắc Kỷ là người đánh Đạt Đa trong sự kiệnnâng chén; Kondō Ghi Tam Lang là người đã lấy em gái Mó Na rồi bỏ cô ấy; sau đó còn xuất hiện một người là Tiểu Đảo Nguyên Trị, là người kích động nhóm Đạo Trạch trong sự kiện Wushe lần thứ hai. Sự kiện Wushe không bao giờ là câu chuyện của một người chống một đế chế, nó là một mạng lưới được dệt từ rất nhiều người cụ thể, rất nhiều xúc phạm cụ thể. Và chiếc tay "không sạch sẽ" đó, chỉ là cọng rơm cuối cùng làm gánh lạc đơn.
Sáng hôm đó của đại hội thể dục
Ngày 27 tháng 10 năm 1930, trường tiểu học công lập Wushe sẽ tổ chức đại hội thể dục liên hợp, quân đội và cảnh sát Nhật, học sinh, gia đình sẽ tập trung ở sân thể dục. Mó Na chọn ngày này. Sáng sớm, khoảng ba trăm chiến sĩ từ sáu xã phân chia công việc, tấn công 13 nơi đóng trú cảnh sát ở khu vực Wushe, chiếm lấy súng đạn, rồi lao vào sân thể dục20. Sáu xã khởi sự là Maha Bô, Tả Lạo Uần, Ba Ác Luân, Tư Khố, Hồ Cô, La Đa Phu. Xã Bà Lan có dân số nhiều nhất, thủ lĩnh là Uế Lịch Tư·Bố Nê không tham gia. Những người kích động chính là Bí Hồ·Sa Bô và Bí Hồ·Uế Lợi Tư của xã Hồ Cô21.
Hôm đó, họ đã giết 134 người Nhật, trong đó có phụ nữ và trẻ em. Ngoài ra còn nhầm giết hai người Hoa mặc áo kimono, một cô bé tên Lý Thái Vân và một chủ cửa hàng bị bắn trúng bằng hạn Lưu Tài Lương22. Những người chiến sĩ thu được khoảng 180 khẩu súng và hơn hai mươi ba nghìn phát đạn23.
Tin tức truyền ra Đài Bắc, tổng đốc phủ bị chấn động. Phía Nhật điều quân đội và cảnh sát, do thiếu tướng Thơm Điền Di Huyền chỉ huy tuyến đầu (tổng đốc Thạch Tủa Anh Tàng là dân sự, tuyến đầu giao cho thiếu tướng Thơm Điền), sử dụng máy bay ném bom, pháo núi bắn phá, hành động dập tắt kéo dài khoảng năm mươi ngày, cho đến đầu tháng 1224.

Các chỉ huy và nhân viên tham mưu của đội trấu sự kiện Wushe (1930). Ảnh:Kouhei Ebihara《霧社討伐寫眞帖》. Public domain via Wikimedia Commons.
Trang lịch sử khó viết nhất trong quá trình dập tắc, cũng là trang tranh cãi nhất, là khí độc. Rất nhiều tài liệu tiếng Trung nói quân đội Nhật sử dụng khí độc bão hòa (Lewis hoặc xà phòng), thậm chí còn bom phốt phát trắng. Những người thứ phía sau đó có bằng chứng "da bị phục hồi", Đảng Nhân dân Đài Loan cũng vào đầu năm 1931 gửi điện tín tới Liên hợp quốc, phản đối Nhật Bản "sử dụng khí độc để diệt chủng"25. Nhưng sự việc này học viên không có kết luận chung. Nhà sử học Nhật Bản Haruyama Akito lạc quan cho rằng, quân đội Nhật thực sự sử dụng "hàng trăm phát lựu đạn gas cay, cộng với ít nhất ba phát gas đặc biệt (có chứa cyanide và thành phần gas cay)", chứ không phải gas xà phòng. Wikipedia tiếng Nhật thậm chí còn viết "cho đến nay vẫn chưa rõ ràng"26.
Vì vậy bài viết này sẽ không khẳng định "quân đội Nhật sử dụng khí độc để diệt chủng", vì nó vượt quá phạm vi chứng cứ có thể hỗ trợ. Nhưng có một tài liệu, ít nhất chứng minh được một điều: Nhật Bản biết rằng bản thân họ đang làm việc gì không được ánh sáng. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1930, Sở Quân sự phó quan gửi một bức điện mật cho Tham mưu trưởng Quân đội Đài Loan, nội dung đại loại là, sử dụng đạn độc bão hòa vì quan tâm đến quan hệ đối ngoại không thảo luận, từ đây về sau bất cứ vấn đề nào liên quan đến đạn khí phải truyền đạt bằng mật mã27. Bức điện này lưu trữ trong tệp của Sở Quốc phòng Nhật Bản (JACAR, S5-2-26). Nó yêu cầu không phải dừng sử dụng khí độc, mà là đừng để khí độc lên giấy, đây chính là bằng chứng sắt của hành động giấu giếm có chủ ý28. Cũng vì cuộc phản đối này, Đảng Nhân dân Đài Loan bị buộc giải tán vào tháng 2 năm 1931. Còn Nhật Bản mãi đến năm 1975 mới ký kết bản ghi nhớ Geneva cấm sử dụng khí độc29.
Trong khi tiến hành dập tắc, đã xảy ra một sự kiện sau đó được viết lại nhiều lần, cũng được lãng mạn hoá nhiều lần: sự treo cổ tập thể của phụ nữ và trẻ em. Con số ghi chép có sự khác biệt, tài liệu tiếng Trung khoảng 296 người, Wikipedia tiếng Anh khoảng 290 người30. Họ treo cổ dưới những cây cổ thụ lớn, vì không muốn làm gánh nặng cho những chiến sĩ vẫn còn chiến đấu, để chiến sĩ không có lo lắng về sau, có thể tiếp tục chiến đấu. Bộ phim quay cảnh này như một lễ tế vừa anh dũng. Nhưng cách mà hậu duệ của bộ tộc Thanh Lưu hiểu là, sự lựa chọn "không có lựa chọn" dưới Gaya: trong hang đá chịu rét đói, con đường sống đã bị chặn sẵn31.
📝 Ghi chú của người bảo tàng
Sự khác biệt giữa hai cách đọc này, nói chung là "ai có quyền gán ý nghĩa cho người chết". "Lễ tế anh dũng" là từ mà những người ngồi khán phòng chọn cho họ; "không có lựa chọn" là cách hậu duệ hiểu trong bối cảnh của hang đá. Bài viết này chọn đứng ở phía sau đó, cũng chọn không để tái hiện từng chi tiết của sáng hôm đó, không viết phương pháp, không phóng to thi thể, chỉ ghi lại thời gian, địa điểm, và một cộng đồng dân tộc khi bị đẩy đến tuyệt vọng đã làm gì. Đây là việc của Gaya, không phải kỳ tích.
Còn riêng Mó Na·Lũ Đạo, ngày tử vong của ông là một bí ẩn có cấu trúc. Vì bộ xương của ông mãi đến năm 1933 mới được tìm thấy, ngày tử vong về cơ bản là một phỏng đoán, những phiên bản khác nhau từ ngày 5 tháng 11, giữa tháng 11, ngày 28 tháng 11 đến ngày 1 tháng 12 đều có. Bài viết này sử dụng "khoảng cuối tháng 11 năm 1930", và đánh dấu rằng ngày này không chắc chắn32. Cái có thể xác định là: ông dùng một khẩu súng ba tám thế hệ, tự sát trong hang đá bên phải sông Maha Bô.
Phim có một cảnh, là Mó Na tự tay nổ súng giết vợ của ông. Nhưng đó là sự thích ứng. Ấn phẩm của Nhật năm 1936 nói Mó Na đã giết vợ và con, nhưng những người thế hệ này biết sự kiện này sau này xác nhận, vợ của Mó Na thực ra là tự treo cổ, vì tự sát của vợ con nó chính là vi phạm Gaya của người Seediq33. Wikipedia ghi nhận sự hiệu chỉnh này:
Vì tự sát vợ con nó chính là vi phạm Gaya của người Seediq, những người thế hệ này biết sự kiện này sau này xác nhận, vợ của Mó Na Lũ Đạo thực ra là tự treo cổ34.
Về con số thương vong, những nguồn khác nhau xung đột với nhau, bài này không im lặng lấy một, mà là mở ra sự khác biệt: Wikipedia tiếng Trung chia chết của sáu xã thành dao kiếm 85, bắn phá 137, pháo 34, lấy đầu 87, treo cổ 296, cộng 639 người, ngoài ra còn bị bắt 265, đầu hàng khoảng 500, những người khởi sự cộng 1.236 người. Wikipedia tiếng Anh ghi những người khởi sự khoảng 1.200 người, tử vong 644 người, treo cổ 290 người35. Con số đối không lên, nhưng hướng nhất quán: sáu xã khởi sự cộng hơn một nghìn người, gần nửa chết trong sự kiện này.
Anh hùng của ai
Năm 2011, đạo diễn Vũ Đức Thánh phát hành "Seediq·Bale", chia thành phần một "Lá Cờ Mặt Trời", phần hai "Cầu Vồng", tổng doanh thu tại Đài Loan khoảng 880 triệu ngàn. Nó vào được danh sách dự tuyển Liên hoan phimVenezia, đoạt giải Phim chính kịch xuất sắc Kim Mã, còn vào danh sách chín giải thưởng Phim ngoại ngữ xuất sắc Oscar36. Đối với người Đài Loan sinh năm 1985 trở đi, mặt của Mó Na·Lũ Đạo từ đó là mặt của người Thái Anh tên là Lâm Khánh Đài, người giáo sĩ.
Trailer của Quả Tử Phim tại rạp chiếu. Mặt trong trailer này, từ đó trở thành mặt của Mó Na·Lũ Đạo cho thế hệ sinh sau năm 1985.
Phim để Mó Na được toàn bộ thế hệ biết đến, đây là công của nó. Nhưng nó cũng là phiên bản bị nhà học giả chất vấn "lãng mạn hoá" nhiều nhất.
Phê bình mạnh nhất, chính là cố vấn văn hóa của chính bộ phim, hậu duệ bộ tộc Thanh Lưu, tác giả "Sự Thật·Bale" Quác Minh Chính (Dakis Pawan). Ông chỉ ra "tế lễ máu cho tổ tiên" "tự hào" những từ này là đạo diễn phát minh, tiếng Seediq không tìm được từ tương ứng; Mó Na nổ súng giết vợ vi phạm Gaya, ông đã cảnh báo Vũ Đức Thánh, Vũ Đức Thánh vẫn quay theo; xuống hạ được làm đẹp thành thành tựu nam tính cá nhân37. Nhà văn bản địa Uế Lịch Tư·Nô Cán thì chỉ trích chủ nghĩa anh hùng cá nhân của phim vi phạm truyền thống quyết định tập thể: lãnh đạo truyền thống bộ tộc tuân theo quyết định tập thể, không có ai có thể tự quyết định38. Nhà học Lâm Tân Như trong bài báo CLCWeb (2018), đã tổng hợp mục từ những mất mát văn hóa này39.
Nếu "Seediq·Bale" là kỳ tích, thì phim tài liệu năm 2014 của Tương Hoa Trúc "Dư Sinh—Seediq·Bale" chính là mặt đối của nó. Phim này vào danh sách dự tuyển Giải thưởng Kim Mã lần thứ 50 Phim tài liệu xuất sắc nhất và Âm thanh xuất sắc nhất (cuối cùng không đoạt), nó theo sau hậu duệ những người sống sót, đi tìm quê hương cua linh tổ Pusu Qhuni (tảng đá Mẫu Đơn), dùng góc nhìn của những người sống sót, để đáp lại kỳ tích trên màn ảnh40. Cao trào chống bạo lực ai cũng viết, nhưng "sống sót rồi thì sao" hầu như không ai viết. Nhà văn Vũ Hạc theo dòng này, anh ấy phỏng vấn hậu duệ những người sống sót, chỉ trích Lý Đăng Hui lập bia, Trần Thủy Biển phát hành tiền xu, đó là chính trị hoá Mó Na, chứ không phải thương tiếc thực sự; những người sống sót thực tế sống trong sự im lặng xấu hổ41.
Quả Tử Phim phát hành trailer phim tài liệu "Dư Sinh" (2014, Tương Hoa Trúc). So với kỳ tích của "Seediq·Bale", nó đưa ống kính cho những người sống sót.
Bộ ghép ảnh đương đại vẫn đang tiếp tục. Ngày 23 tháng 4 năm 2008, Seediq tách khỏi Thái Anh, chính thức được đặt tên là tộc người bản địa thứ 14 của Đài Loan, chia dưới thành ba nhóm phương ngữ là Tê Cố Đạt Dạ, Đạo Trạch, Đức Lộ Cố42. Ngày 1 tháng 8 năm 2016 Ngày Người Bản Địa Đài Loan, tổng thống Thái Anh Văn đại diện chính phủ xin lỗi những người bản địa:
Trong bốn trăm năm, mỗi chế độ chính quyền từng đến Đài Loan, bằng cách chinh phục quân sự, lấy cúp đất đai, đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền hiện có của người bản địa Đài Loan43.
Bà cũng thành lập Ủy ban Lịch sử Công lý và Công lý Chuyển tiếp Người Bản Địa Đài Loan, do bác sĩ pháp luật Seediq Thái Chí Vĩ (Awi Mona, bác sĩ pháp luật bản địa đầu tiên của Đài Loan) làm phó chủ tịch nhóm đất44. Nhưng công lý không phải là xong. Năm 2017 phương pháp xác định lãnh thổ truyền thống loại bỏ đất riêng, rút gọn phạm vi có thể xác định từ 1.8 triệu héc ta còn khoảng 800.000 héc ta, gây ra cuộc đấu tranh kéo dài nhiều năm trên Kai Tao45.
Còn câu hỏi sắc cạnh nhất lại để cho đương đại. Năm 2025, "Seediq·Bale" được chiếu lại ở Trung Quốc với tên "giải phóng 80 năm". Một hậu duệ Seediq Uế Lực Tư Bawan được phỏng vấn, đã đáp lại như thế này (dịch từ bài báo tiếng Anh):
Đây là việc của Trung Quốc và Nhật Bản. Họ dùng một bộ phim về chúng tôi, để nói cảm xúc của chúng tôi, nhưng Trung Quốc chưa bao giờ đến hỏi chúng tôi46.
Câu nói này, hầu như có thể coi là chìa khóa của toàn bộ bài viết. Mó Na·Lũ Đạo bị ba phía tuyên bố: chủ nghĩa dân tộc người Hoa/Đài Loan, tường thuật dân tộc Trung Hoa, sự im lặng của hậu duệ Miệt Phương, ba phía với cùng một người, có ba quan hệ không thể tương thích. Và người bị chiếm dụng lặp lại, chính là ông, từ lâu không bao giờ được hỏi47.
Người thực thụ
Quay lại bộ tộc Thanh Lưu.
Những hậu duệ những người sống sót lúc đó bị buộc di cư đến Xuyên Trung Đảo, hôm nay vẫn cư trú ở đây, tên địa phương là Gluban, hành chính thuộc Huyện Nhân Ái Tỉnh Nam Đầu. Ở đây trồng một loại lúa gọi "lúa Xuyên Trung", (Đài Cương 9 hào), thời kỳ Nhật trị từng được tiến cúng Thiên hoàng; báo chí thường nói đây là "bộ tộc bản địa có trình độ giáo dục cao nhất, tập trung viên chức công vụ nhất", dù lời nói này tìm không được thống kê chính thức hỗ trợ, chỉ có thể tính là cách nói phổ biến48. Trong làng lập có bia tưởng niệm dư sinh và bảo tàng kỷ niệm. Những cánh đồng lúa vàng năm sau năm kia chín rồi gặt. Cuối cùng của "Dư Sinh" của Tương Hoa Trúc, hậu duệ vẫn trong núi đi tìm tảng đá gọi Pusu Qhuni, quê hương của linh tổ49.

Tượng đồng Mó Na·Lũ Đạo và Bia Tưởng Niệm Khởi Nghĩa Chống Nhật Wushe ở Wushe. Ảnh:徐芳蘭(fanglan), 2012. CC BY 2.0 via Wikimedia Commons.
Chúng ta cần anh hùng. Cần một câu chuyện sạch sẽ có thể cho vào sách giáo khoa, cần một chiếc tiền xu có thể cầm trên tay, cần một khuôn mặt có thể treo trên tường. Vì thế chúng ta khắc Mó Na·Lũ Đạo lên tiền xu hai mươi ngàn, để anh ấy viết vào "dân tộc Trung Hoa chống Nhật", quay anh ấy thành sử thi hùng vĩ.
Nhưng Mó Na·Lũ Đạo muốn trở thành cái gì từ lâu không phải anh hùng. Ông muốn trở thành Seediq Bale—người thực thụ. Một người có vết henna trên mặt, giữ được Gaya, chết rồi vượt qua được cầu vồng. Trong cái thế giới đó, không có Trung Quốc, cũng không có Nhật Bản, chỉ có tổ tiên, cơi ổn định, chiếc cầu, và linh hồn hình cua đứng ở đầu cầu kiểm tra hai tay của bạn.
Chiếc tiền xu đó, khuôn mặt lấy từ tạp chí Nhật Bản. Bộ xương đó, làm bốn mươi năm mẫu vật, cuối cùng cũng dùng nghi lễ người Hoa đặt xuống, kể cả quay về cũng không phải đi qua cầu vồng riêng của ông. Chúng ta cho ông mọi thứ, ngoại trừ một điều—coi ông là một người, chứ không phải một tượng đài kỷ niệm.
Có lẽ bước đầu tiên để thực sự biết Mó Na·Lũ Đạo, không phải nhớ ông giết bao nhiêu người Nhật, mà là hiểu được thế giới ông dùng mạng sống bảo vệ, lại không bao giờ cần phải chúng ta chọn cạnh nào.
Mở rộng đọc:
- [Vũ Đức Thánh](/people/Vũ Đức Thánh) — Đạo diễn phim "Seediq·Bale" để Mó Na·Lũ Đạo lên màn bạc, cũng là mặt khác của "phim làm cách nào viết lại ký ức" trong bài viết này
- [Lịch sử Người Bản Địa Đài Loan và Phong Trào Chính Danh](/history/Lịch Sử Người Bản Địa Đài Loan và Phong Trào Chính Danh) — Cách nhóm Seediq từ tộc Thái Anh độc lập, trở thành tộc người bản địa thứ 14 của Đài Loan năm 2008
- [Thời kỳ Nhật Trị](/history/Thời Kỳ Nhật Trị) — Chính sách lý bản và Đài Loan bị thực dân năm mươi năm, bối cảnh thời đại của sự kiện Wushe
- [Công Lý Đất Đai Người Bản Địa Đài Loan và Lãnh Thổ Truyền Thống](/society/Công Lý Đất Đai Người Bản Địa Đài Loan và Lãnh Thổ Truyền Thống) — Cơi ổn định mà Mó Na bảo vệ, mở rộng thành tranh chấp xác định lãnh thổ truyền thống hôm nay
Nguồn Hình Ảnh và Video
Bài viết sử dụng 7 hình ảnh công cộng/CC, tất cả cache tại public/article-images/people/ để tránh liên kết nóng; ngoài ra nhúng hai video chính thức của Quả Tử Phim (bình luận biên tập sử dụng hợp lý):
- Mó Na·Lũ Đạo và các thủ lĩnh tộc Seediq chụp ảnh chung(ảnh chính) — Từ "Bộ Ảnh Thảo Đạo Wushe" của Ebihara Kouhei (Công ty Giao Thương Tiến, 1931), công cộng (PD-Japan-oldphoto). Hình gốc là hình dọc, bài viết cắt thành hình vuông làm ảnh chính.
- Vòng chân ngọc trai của Mó Na·Lũ Đạo(2019) — Kỷ vật sưu tập Bảo tàng Quốc gia Đài Loan, chụp ảnh: 氏子, CC BY-SA 4.0.
- Ảnh hiện trường sự kiện Wushe(1930) — Từ "Bộ Ảnh Thảo Đạo Wushe" của Nhật Bản, công cộng (PD-Japan-oldphoto).
- Chỉ huy và nhân viên tham mưu của đội trấu sự kiện Wushe(1930) — Từ "Bộ Ảnh Thảo Đạo Wushe" của Nhật Bản, công cộng (PD-Japan-oldphoto).
- Đội bản địa thân Nhật(1931) — Từ "Bộ Ảnh Thảo Đạo Wushe" của Nhật Bản, công cộng (PD-Japan-oldphoto).
- Vòng chân ngọc trai của Mó Na·Lũ Đạo (góc nhìn khác)(2019) — Kỷ vật sưu tập Bảo tàng Quốc gia Đài Loan, chụp ảnh: 氏子, CC BY-SA 4.0.
- Tượng đồng Mó Na·Lũ Đạo và Bia Tưởng Niệm Khởi Nghĩa Chống Nhật Wushe(2012) — Chụp ảnh: Từ Phương Lan (fanglan), CC BY 2.0.
- Video: Trailer Phim Rạp "Seediq·Bale" HD — Kênh chính thức Quả Tử Phim (ARS Film).
- Video: Trailer "Dư Sinh–Seediq·Bale" — Kênh chính thức Quả Tử Phim, phim tài liệu năm 2014 của Tương Hoa Trúc.
Tài Liệu Tham Khảo
Nửa mà sách giáo khoa không dạy
Nếu câu chuyện kết thúc ở đây, nó sẽ là một bi kịch sạch sẽ: một cộng đồng dân tộc đoàn kết chống chế độ độc tài, lễ tế anh dũng. Nhưng nửa sau của sự kiện Wushe thực sự, sách giáo khoa hầu như không dạy, vì nó hoàn toàn không sạch sẽ. Ngày 25 tháng 4 năm 1931, "Sự kiện Wushe lần thứ hai" xảy ra. Những người sống sót của sáu xã khởi sự sau khi đầu hàng, bị giam giữ trong các trại "bảo vệ bản địa" ở Tây Bảo, La Đa Phu. Cảnh sát Nhật Tiểu Đảo Nguyên Trị (chính là người được đề cập trước đó) kích động nhóm Đạo Trạch thân Nhật, lập thành khoảng hai trăm người "đội tấn công bản địa thân Nhật", tấn công trại ban đêm. Số người bị giết và tự sát cộng 216 người (những nguồn khác nhau ghi 214, 216 hoặc 218), được chặt 101 cái đầu, con số này có ảnh chụp trong sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Đài Loan để chứng thực (số đăng ký 2017.025.0192.0019)50.
Nói cách khác, cái giết sạch lô người khởi sự Wushe cuối cùng, là một nhóm người bản địa khác. Người bản địa giết người bản địa.

Hàng "đội bản địa thân Nhật" (1931) do Nhật Bản huy tập. Ảnh:Kouhei Ebihara《霧社討伐寫眞帖》. Public domain via Wikimedia Commons.
Dẫn đầu đội, là tổng thủ lĩnh của nhóm Đạo Trạch Thiết Mộc·Uế Lực Tư (khoảng 1898 đến 30 tháng 11 năm 1930). Anh chính là một tấm gương của Mó Na. Giữa nhóm Đạo Trạch và nhóm Tê Cố Đạt Dạ có những mâu thuẫn cũ về cơi ổn định, Nhật Bản lâu nay gây xuyên tạc, Tiểu Đảo Nguyên Trị chính là người tận dụng lớp hận cũ này51. Vợ của Mó Na từng muốn chiêu mộ Thiết Mộc để khởi sự, bị anh từ chối, anh thay vào đó che giấu Tiểu Đảo. Cuối cùng, Thiết Mộc dẫn đội tấn công để bắt đuổi những người khởi sự, bị nhóm Tê Cố Đạt Dạ khai hoạn lấy đầu ở thung lũng Hạ Bần, chết cùng với mười mấy tên tay chân52.
Phim quay Mó Na và Thiết Mộc như thù tích cá nhân không thể chung mái nhà, nhưng đó là hư cấu. Dịch giả tiếng Seediq Iwan Pering chỉ ra rằng, theo Gaya, Mó Na hoàn toàn không thể xâm lấn cơi ổn định của nhóm khác, hai người thậm chí có thể có quan hệ nhân duyên53. Thiết Mộc không phải phản diện, anh là một thủ lĩnh khác tuân theo cùng một bộ luật Gaya, chỉ là đứng ở phía đối diện. Lên án thành "phản bội thân Nhật", là cách tối giản của những người sau này. Cố vấn văn hóa Seediq Quác Minh Chính (Dakis Pawan) từ chối nhìn nhóm Đạo Trạch như vậy. Anh ấy nói, đã hứa người ta, Seediq phải làm cho đến cùng, cái này cũng là tinh thần của Seediq Bale54.
Giữa hai cực của Mó Na và Thiết Mộc, còn kẹp thêm loại người thứ ba: Hoa Cương Nhất Lang và Hoa Cương Nhị Lang.
Hai người này không có quan hệ máu, cùng xuất thân từ xã Hồ Cô, là "mẫu hình lý bản" được Nhật Bản một tay nuôi dạy: nhận giáo dục Nhật Bản, trở thành cảnh sát Seediq tinh hoa. Nhà học Nakao Eki Pacidal gọi họ là "những người ở giữa" (inbetweener)55. Khi sự kiện nổ ra, họ đã lựa chọn đau đớn nhất. Hoa Cương Nhất Lang (tên Seediq Đạt Kỳ Tư·Nô Tân, Dakis Nobing) đã học qua Trung học Đài Trung, anh trước tiên xử lý gia đình, sau đó dùng dao bản tự đâm vào thân (không phải cách cắt bụng kiểu samurai Nhật). Hoa Cương Nhị Lang (Đạt Kỳ Tư·Na Uê, Dakis Nawi) thì dẫn dân tộc treo cổ56. Họ để lại một lá thư di chúc bằng tiếng Nhật, bắt đầu bằng:
我等は此の世を去らねばならぬ/蕃人のこうふんは出役の多い為にこんな事件になりました(Chúng tôi phải rời khỏi thế giới này/Người bản địa nổi loạn là vì lao động quá nhiều mới gây ra sự kiện này)57.
Vợ của Hoa Cương Nhị Lang là Cao Sơn Sơ Tử (tên Seediq Nga Tân·Tá Đạt Ô) sống sót, sau này trở thành nhân chứng quan trọng nhất mà nhà văn Đặng Tương Dương nghiên cứu sự kiện Wushe58. Con trai hoàn cảnh của bà là Cao Quang Hoa (Awi Dakis, 1930 đến 2001), sau này từng làm trưởng huyện Nhân Ái, chính là người đó vào năm 1973 đón xương Mó Na về59. Nhật Bản không tin tưởng họ, Seediq cũng chưa chắc tiếp nhận họ. Anh em Hoa Cương chết trong khe nứt của hai thế giới, kể cả lời để lại cuối cùng của họ, cũng được viết bằng tiếng Nhật.
Sau khi sự kiện kết thúc, những người sống sót phải trả giá cuối cùng. Ngày 6 tháng 5 năm 1931, khoảng 298 người sống sót từ sáu xã khởi sự (tài liệu tiếng Nhật còn nói 278 người) bị buộc di cư đến "Xuyên Trung Đảo". Tên gọi mặc dù có chữ đảo, nó thực tế là một cao nguyên bao quanh bởi sông Bắc Cảng, sông Miên Nguyên, sông A Bì Tư. Họ bị cấm quay trở về quê hương, có 4 người cố gắng quay lại, 3 người bị xử tử. Bệnh lỵ và sốt rét lây lan ở khu tập trung60. Viên chức Nhật Bản cũng phải chịu trách nhiệm: tổng đốc Thạch Tủa Anh Tàng và bộ trưởng tổng vụ Nhân Kiến Thứ Lang vào ngày 16 tháng 1 năm 1931 mất chức, giám đốc cảnh sát Thạch Tỉnh Bảo, tri sự Đài Trung Thủy Việt Hạnh Nhất cũng mất chức61.
📝 Ghi chú của người bảo tàng
Tại sao sách giáo khoa chỉ dạy nửa trước, không dạy nửa sau? Vì nửa trước có thể được đặt vào khung "dân tộc Trung Hoa chống Nhật" sạch sẽ, nửa sau không. Sự kiện Wushe lần thứ hai, nhóm Đạo Trạch, người bản địa giết người bản địa, những điều này một khi được mở ra, thần thoại "một dân tộc đoàn kết chống bạo lực" sẽ vỡ. Nhà sử học sửa chữa Barclay đập nát chính cái sạch sẽ này: nhóm Đạo Trạch, nhóm Thái Lỗ Các từng hợp tác với Nhật Bản lấy đầu những người khởi sự, mối dẫn của sự kiện Wushe là xấu hổ và lao động trước mặt mà không phải một kế hoạch tiêu diệt toàn tộc hệ thống62. Nhưng Barclay cũng nhấn mạnh, anh ấy không phải đang giặc trắng hoá chứng chế thuộc địa, cách đáp ứng của Nhật Bản với những người khởi sự thực sự là một loại "genocidal fury" (cuồng nộ tiêu diệt chủng tộc). Anh ấy đập nát, là bộ quần áo sạch sẽ mà chủ nghĩa dân tộc mặc cho sự kiện này, không phải chính đáng của sự kiện khởi sự.
Một bộ xương đi bộ bốn mươi năm
Mó Na·Lũ Đạo chết, nhưng câu chuyện của ông vẫn chưa kết thúc. Bởi vì xương ông, tiếp theo sẽ đi một đoạn hành trình kỳ lạ kéo dài gần bốn mươi năm. Ngày 6 tháng 7 năm 1933, một thợ săn của xã Ba Ác Luân tìm thấy một bộ xương trong hang đá bên phải sông Maha Bô. Con gái của Mó Na là Mã Hồng·Mó Na dựa vào chiếc áo vải, vòng tay bạc và dao bản mà nhận ra, xác nhận đó là cha63.

Ảnh hiện trường từ "寫眞帖" của sự kiện Wushe (1930). Biến chinh phục thành triển lãm, và biến xương Mó Na thành mẫu vật, là cùng một xung động. Ảnh:Kouhei Ebihara《霧社討伐寫眞帖》. [Public domain via Wikimedia Commons](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:賽德克族馬赫坡社貝珠踝飾(2)._
Những gì xảy ra tiếp theo, cho đến hôm nay vẫn còn chọc thương. Ngày 13 tháng 6 năm 1934, Sở Quận Năng Cao khánh thành, xương Mó Na được trưng bày công khai, thu hút gần muười nghìn khách tham quan. Ngày 1 tháng 7 cùng năm, lại được đặt trong tủ kính triển lãm tại triển lãm cảnh sát ở vườn thực vật. Theo ghi chép, triển lãm mà khách tham quan quan tâm nhất chính là xương Mó Na64. Ngày 28 tháng 7, xương được gửi tới Đại học Đế quốc Đài Bắc, do bài giảng về nhân loại học phong tục Idegawa Shinosuke tiếp nhận, sau đó lại được nhà khoa học giải phẫu Kinseki Takeo thực hiện một cái gọi là nghiên cứu "bàn chân lớn". Từ đó, Mó Na·Lũ Đạo trở thành một mẫu vật nhân học có số hiệu, một lần đặt là khoảng bốn mươi năm65.
Người cứu Mó Na từ tủ mẫu vật là một nhà nhân loại học. Ngày 17 tháng 9 năm 1973, Lý Dã Viên, đại diện chủ tịch khoa Khảo cổ nhân loại học Đại học Đài Loan, viết thư cho hiệu trưởng Diễm Chấn Hưng, đề xuất trả lại xương. Cùng năm ngày 24 tháng 12, Mó Na·Lũ Đạo rời Đại học Đài Loan66.
Có một vòng khép bị chua chát ở đây: lúc đầu biến ông thành mẫu vật "cung cấp cho nghiên cứu" là nhân loại học, cuối cùng cũng là nhân loại học lôi ông ra khỏi tủ mẫu vật. Một người để không bị coi là "vật chứng của tộc người nguyên thủy" mà khởi sự, chết rồi lại đúng là mẫu vật như vậy trong bốn mươi năm, và điều này đích xác chính là cái thứ mà những kẻ thực dân dùng để "chứng minh" ban đầu: người bản địa có bao nhiêu "nguyên thủy", bao nhiêu "man rợ"67.
Và cách ông quay về nhà, vẫn không phải dùng cách riêng của ông. Lễ chôn cất được chủ tịch Tổng thống Đài Loan Tạ Đông Bản chủ trì, dùng một bộ nghi lễ người Hoa hoàn chỉnh: linh đường, vòng hoa, tiếng khóc, xe linh, bàn thờ trước mộ còn lập một cây cổng trắng kiểu Trung Quốc, khắc "máu và gió anh dũng" "can đảm trung thành"68. Kể cả quay về, cũng không phải đi qua cầu vồng riêng của ông.

Cùng một vòng chân ngọc trai ở góc nhìn khác, hiện giữ tại Bảo tàng Quốc gia Đài Loan. Một người canh giữ suốt cuộc đời Gaya, cuối cùng cả cơ thể lẫn vật dụng đều trở thành đồ trưng bày trong tủ. Ảnh:氏子, 2019. CC BY-SA 4.0 via Wikimedia Commons.jpg).
📝 Ghi chú của người bảo tàng
Từ năm 1934 đến 1973, cùng một bộ xương được ba lực lượng định nghĩa lần lượt. Người Nhật coi nó là "bằng chứng của sự man rợ", làm thành mẫu vật triển lãm; chính phủ quốc dân coi nó là "anh hùng chống Nhật của dân tộc Trung Hoa", lập bia, vào đền thờ liệt sĩ, trao bằng khen; và sau khi địa phương hoá, nó lại trở thành biểu tượng của "ý thức độc lập Đài Loan". Michael Berry biên tập "The Musha Incident: A Reader" (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2022) giải thích quá trình này rất rõ ràng: ba chế độ, ba cách sử dụng, mỗi cách đều lưu đưa người Seediq từ vị trí chủ thể trong câu chuyện. Mó Na được khắc lên tiền xu hai mươi ngàn, thực ra là lần thứ ba bị chiếm dụng.
Berry trong cuốn sách này tóm tắt ba cách sử dụng như thế này (dưới đây là dịch tiếng Việt):
Người Nhật dùng nó để chứng minh người bản địa "man rợ"; chính phủ quốc dân trích dẫn sự kiện này, làm bằng chứng người Đài Loan anh dũng, và đoàn kết với người Trung Quốc chống Nhật; nhóm chủ trương độc lập thì coi nó như mẫu mực của truyền thống văn hóa "thực thụ"69.
Dòng chiếm dụng này kéo dài cho đến hôm nay. Năm 1969, Mó Na·Lũ Đạo được vào Đền thờ Liệt sĩ, theo ghi chép là người bản địa đầu tiên được vào. Năm 1970, Viện Hành pháp trao bằng khen, được Bộ Nội vụ Từ Khánh Tùng ký70. Bia tưởng niệm ở Wushe càng được sửa một lần lại một lần: năm 1950 trước tiên Cao Vĩnh Thanh phá hủy đền thờ, lập "Bia Tưởng Niệm Dư Sinh". Năm 1953 lập lên "Máu anh dũng gió anh dũng" cổng và bia tưởng niệm các nạn nhân, được Chủ tịch Tổng thống Đài Loan Ngô Quốc Triệp ký. Sau khi Ngô Quốc Triệp gặp bê bối chính trị, bia văn lại được sửa thành "Bia Tưởng Niệm Khởi Nghĩa Chống Nhật của Bản Địa Wushe", ký tên Hoàng Kiệt71. Nhà sử học Cố Hằng Trương trong bài "Ký Ức Chảy Lượn" chỉ ra, mỗi lần chính quyền thay đổi, người ký tên sẽ đổi một người, bia văn sẽ được khắc lại một lần, nhà nước chính là cách này khắc chính trị ký ức vào cùng một tảng đá72.
Còn chiếc tiền xu hai mươi ngàn, ngân hàng trung ương nói lý do chính thức là "để tôn trọng lịch sử văn hóa người bản địa Đài Loan, thúc đẩy hòa hợp các cộng đồng dân tộc"73. Lời nói hay lắm. Chỉ là khi bạn biết rằng khuôn mặt đó được lôi từ tạp chí Nhật, chiếc tiền xu đó không ai dám lấy, bộ xương đó đã làm bốn mươi năm mẫu vật, "thúc đẩy hòa hợp các cộng đồng dân tộc" sáu chữ này nghe lên là có một trọng lượng khác.
- Bảo tàng Kỷ Vật Kỷ Vật Điện Tử Ngân Hàng Trung Ương: Tiền Xu Mười Ngàn Tái Mới Niên — Trang Bảo tàng Kỷ Vật Chính Thức Ngân Hàng Trung Ương, giải thích tiền xu hai mươi ngàn màu hai được phát hành vào tháng 7 năm 2001, mặt trước là Mó Na·Lũ Đạo và Bia Tưởng Niệm Khởi Nghĩa Chống Nhật Wushe, mặt sau là tàu gỗ nước của người Atayal, là đồng xu lưu thông đầu tiên của Đài Loan với chủ đề người bản địa.↩
- Báo Thời Kỳ (Hệ Thống Báo Liên Hợp): Câu Chuyện Thiết Kế Tiền Xu Hai Mươi Ngàn — Cột sưu tập kỹ thuật số Hệ Thống Báo Liên Hợp, ghi lại quá trình mà Nhà In Tiền Trung Ương tìm khắp tài liệu lịch sử trong nước nhưng không tìm đượcchân dung của Mó Na·Lũ Đạo, cuối cùng tìm thấy trong một tạp chí tiếng Nhật, rồi nhân viên thiết kế dựa vào ảnh để từng nét một khắc lên khuôn.↩
- Gương Tuần San: Tại Sao Tiền Xu Hai Mươi Ngàn Bị Lỗi Thường Bị Xem Là Tiền Giả — Gương Tuần San báo cáo hiện tượng tiền xu hai mươi ngàn vì phát hành ít, lưu thông thấp, mọi người mang đi tiêu dùng thường bị chủ cửa hàng nhầm là tiền giả từ chối nhận.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo — Mục Wikipedia tiếng Trung Quốc, tổng hợp cuộc đời Mó Na·Lũ Đạo là thủ lĩnh của xã Maha Bô nhóm Tê Cố Đạt Dạ tộc Seediq, sinh năm 1880 (Wikipedia tiếng Trung Quốc và Anh) hoặc 1882 (Viện Nghiên Cứu Giáo Dục Quốc Gia Bộ Giáo Dục), vì không có bản ghi hộ khẩu gốc nên không thể xác định, hai lời khai song hành.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Thân Hình) — Phần "Thân Hình" của mục mô tả Mó Na thân thể cao lớn ngoài, dự kiến chiều cao gần 190 cm, chữ "dự kiến" đánh dấu đây là truyền thuyết, không có bằng chứng đo lường xương.↩
- Wikipedia: Gaya (Seediq và Tào Luật) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — )) — Giải thích Gaya là đạo huấn, luật lệ, quy chuẩn xã hội và điều cấm kỵ của tộc Seediq, do linh tổ Utux quyết định, không thể thay đổi, quy định các nghĩa vụ tập thể của cùng tế lễ, cùng cơi ổn định, cùng ăn, cùng tuân thủ điều cấm kỵ, cùng gánh chịu hình phạt↩
- Taiwan Insight: Khám Phá Chính Trị Văn Hóa Giới Tính của "Seediq·Bale" — Nền tảng Taiwan Insight của Đại học Nottingham công bố bài của nhà học Lâm Tân Như, phân tích xuống hạ (mgaya) trong văn hóa Seediq liên quan đến báo thù, phán quyết thiêng liêng, cầu mong vụ thu hoạch, tưởng nhớ tổ tiên và tiêu chuẩn trưởng thành nam giới, chứ không phải bạo lực đơn thuần.↩
- Wikipedia: Cầu Vồng (Tín Ngưỡng Seediq) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — )) — Giải thích tín ngưỡng Seediq rằng sau khi chết người phải vượt qua cầu vồng (Hakaw Utux) để gặp gỡ tổ tiên, đầu cầu do linh hồn hình cua (Utux Kalan) canh gác kiểm tra vết henna trên mặt, nam phải lấy đầu, nữ phải biết dệt để có tư cách vết henna, mới có thể vượt qua cầu vồng↩
- Duke University Press: Leo Ching "Anti-Japan" — Nhà xuất bản Đại học Duke phát hành chuyên đề nghiên cứu hậu thực dân của Kinh Tử Hương (Leo Ching), đề ra khái niệm "ràng buộc kép thuộc địa" (colonial double-bind) của người bản địa vùng thuộc địa, chỉ bị "dạy vặn" thành "nửa người văn minh" nhưng lại bị thực dân coi là man rợ, cả hai bên không chấp nhận.↩
- Taiwan Insight: Chính Trị Văn Hóa Giới Tính của "Seediq·Bale" — Bài báo giải thích Seediq Bale trong tiếng Seediq có nghĩa là "người thực thụ", là khái niệm cốt lõi của thế giới quan Seediq.↩
- Guava Nhân Loại Học: Quác Minh Chính nói về Tái Hiện Văn Hóa của "Seediq·Bale" — Blog chung nhân loại học Guava đăng, tổng hợp xác minh của cố vấn văn hóa phim Quác Minh Chính (Dakis Pawan) về từ ngữ phim và chi tiết văn hóa, chỉ ra "tế lễ máu cho tổ tiên" là do đạo diễn phát minh, tiếng Seediq không có từ tương ứng.↩
- Wikipedia: Chính Sách Lý Bản — Mục cơ bản lý bản của Nhật Bản đối với người bản địa Đài Loan, từ Cục Phát Triển và Bình Định, năm 1906 chuyển cảnh sát quản lý, 1910–1915 "Kế Hoạch Lý Bản Năm Năm" của Tổng Đốc Tả Cửu Gian Tả Mã Đài (khoảng 16,3 triệu yên Nhật chinh phục quân sự), năm 1915 hủy vũ khí, bước vào giai đoạn đồng hóa, cấm xuống hạ, vết henna trên mặt.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Vùng Bản Địa Mẫu Hình) — Đoạn "Vùng Bản Địa Mẫu Hình" của mục trích dẫn, người bản địa Wushe khoảng 95% có thể sử dụng tiếng Nhật đơn giản để giao tiếp với cảnh sát và giáo viên Nhật Bản, được xem là thành quả lý bản.↩
- University of California Press: Paul D. Barclay "Outcasts of Empire" — Nhà xuất bản Đại học California phát hành chuyên đề của Barclay phân tích sửa chữa lý bản Nhật Bản, mô tả Wushe là "một khu lạp lạnh do những người ngoại lai chủ yếu kiểm soát, sự yên tĩnh và lòng trung thành của cư dân địa phương chỉ có thể được coi là đáng ngờ".↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Lao Động và Đối Xử) — Mục ghi lại 1928–1930 người bản địa khu vực Wushe bị huy động chín lần lao động, năm 1928 công trình xây dựng đền thờ bị khấu trừ tiền mặt cơm và buộc quyên góp, tiền lương mỗi ngày 20–30 tiền, thấp hơn người Hoa 60 tiền.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Hôn Nhân Kondō) — Mục ghi Cảnh Sát Nhật Kondō Ghi Tam Lang lấy em gái Mó Na là Điềm Uế Tư·Lũ Đạo rồi bỏ cô ấy, theo Gaya phụ nữ bị chồng bỏ không thể quay về nhà, trở thành một sự phẫn nộ được tích lũy trong sự kiện Wushe.↩
- Taipei Times: Bài Đánh Giá Sách "Kondo the Barbarian" — Bài đánh giá sách Taipei Times giới thiệu "Kondo the Barbarian" của Paul Barclay, xác minh rằng "Kondō Ghi Tam Lang" là anh em trai của Kondō Thắng Tam Lang, một nhân vật lý bản quan trọng, làm rõ vai trò của gia đình Kondō ở Wushe.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Sự Kiệnnâng chén) — Mục ghi 7 tháng 10 năm 1930 con trai cả Mó Na là Đạt Đa·Mó Na tại bữa tiệc cướinâng chén rượu cho cho Cảnh Sát Nhật Cát Thôn Khắc Kỷ, tay có máu thú bị coi là không sạch sẽ, Cát Thôn từ chối và dùng gậy cảnh sát đánh, hai bên xung đột, Cát Thôn bị thương, chuyện mở đầu cho sự kiện Wushe.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Mô Tả Sự Kiệnnâng chén) — Cùng mục ghi chép nguyên văn Cát Thôn Khắc Kỷ vì "ghét chiếc bàn tiệc không sạch sẽ đó" từ chối Đạt Đa·Mó Nanâng chén rượu cho và dùng gậy cảnh sát đánh taynâng chén rượu cho, hai bên xung đột.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Cuộc Tấn Công Bất Ngờ) — Mục ghi lại 27 tháng 10 năm 1930 sáng sớm, sáu xã khoảng 300 chiến sĩ phân chia công việc, tấn công 13 nơi đóng trú cảnh sát, chiếm lấy súng đạn, sau đó lao vào sân thể dục Trường Tiểu Học Công Lập Wushe.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Sáu Xã Khởi Sự) — Mục liệt kê sáu xã khởi sự là Maha Bô, Tả Lạo Uần, Ba Ác Luân, Tư Khố, Hồ Cô, La Đa Phu, ghi rõ xã Bà Lan có dân số nhiều nhất với thủ lĩnh Uế Lịch Tư·Bố Nê không tham gia, những người kích động chính là Bí Hồ·Sa Bô và Bí Hồ·Uế Lợi Tư của xã Hồ Cô.↩
- Taipei Times: Bắn Phá Khí Độc Sự Kiện Wushe — Báo cáo chuyên sâu Taipei Times, ghi lại đó giết 134 người Nhật (gồm phụ nữ trẻ em), và nhầm giết hai người Hoa mặc áo kimono (Lý Thái Vân và chủ cửa hàng Lưu Tài Lương).↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Vũ Khí Thu Được) — Mục ghi lại những chiến sĩ khởi sự trong cuộc tấn công bất ngờ thu được khoảng 180 khẩu súng và 23,037 phát đạn.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Dập Tắc) — Mục ghi Nhật Bản huy tập quân đội và cảnh sát, tuyến đầu do Thiếu Tướng Thơm Điền Di Huyền chỉ huy (không phải Tổng Đốc Thạch Tủa Anh Tàng), sử dụng máy bay ném bom, pháo núi bắn phá, kéo dài khoảng năm mươi ngày cho đến đầu tháng 12.↩
- Taipei Times: Bắn Phá Khí Độc Sự Kiện Wushe — Báo cáo tổng hợp tranh cãi sử dụng khí độc trong cuộc dập tắc Nhật Bản, gồm bằng chứng "da bị phục hồi" từ những thứ phía sau, và bản điện tín của Đảng Nhân Dân Đài Loan đầu năm 1931 tới Liên Hợp Quốc phản đối Nhật Bản "sử dụng khí độc để diệt chủng".↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Tranh Cãi Khí Độc) — Mục trình bày hai phía của tranh cãi khí độc: lập trường khí độc bão hòa và ý kiến nhà sử học Nhật Bản Haruyama Akito rằng quân đội Nhật sử dụng "hàng trăm phát lựu đạn gas cay cộng ít nhất ba phát khí đặc biệt (có chứa cyanide và thành phần gas cay)", Wikipedia tiếng Nhật thậm chí viết "cho đến nay vẫn chưa rõ ràng".↩
- JACAR Trung Tâm Tài Liệu Lịch Sử Châu Á Nhật Bản: Tài Liệu Liên Quan Sự Kiện Wushe (S5-2-26) — Sưu tập bởi Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Sở Quốc Phòng Nhật Bản, số hóa bởi JACAR, chứa tài liệu liên quan sự kiện Wushe, bao gồm bức điện mật 5 tháng 11 năm 1930 từ Sở Quân Sự Phó Quan gửi cho Tham Mưu Trưởng Quân Đội Đài Loan, yêu cầu sử dụng đạn độc bão hòa vì quan tâm đến quan hệ đối ngoại không được thảo luận, các vấn đề liên quan đạn khí phải truyền đạt bằng mật mã.↩
- Taipei Times: Bắn Phá Khí Độc Sự Kiện Wushe — Báo cáo trích dẫn bức điện mật Sở Quân Sự "Đạn khí bằng mật mã", luận chứng Nhật Bản không phải từ chối sử dụng mà là cố ý không để lại bằng chứng, là chìa khóa chứng minh ý định che giấu có chủ ý.↩
- Wikipedia: Đảng Nhân Dân Đài Loan (Đoạn Giải Tán) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — ) — )) — Mục ghi Đảng Nhân Dân Đài Loan vì hành động phản đối sự kiện Wushe v.v., bị buộc giải tán tháng 2 năm 1931; nghiên cứu sự kiện Wushe cũng chỉ ra Nhật Bản mãi năm 1975 mới ký kết bản ghi nhớ Geneva cấm khí độc↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Tự Sát Treo Cổ) — Mục ghi con số tự sát treo cổ của phụ nữ và trẻ em trong sự kiện Wushe, tài liệu tiếng Trung khoảng 296 người, Wikipedia tiếng Anh khoảng 290 người, con số có sự khác biệt.↩
- Hong Kong 01: Chuyên Đề 90 Năm Sự Kiện Wushe — Báo cáo Hong Kong 01 tổng hợp các quan điểm khác nhau 90 năm sự kiện Wushe, gồm cách hậu duệ bộ tộc Thanh Lưu hiểu tự sát treo cổ của phụ nữ: không phải lễ tế anh dũng mà là "không có lựa chọn" dưới Gaya của sự tuyệt vọng bị buộc.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Thời Gian Tử Vong) — Mục ghi bộ xương Mó Na tìm thấy năm 1933, ngày tử vong là phỏng đoán, có nhiều phiên bản 11 tháng 5, giữa tháng 11, 28 tháng 11, 1 tháng 12, về cơ bản không thể xác định chính xác.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Cách Chết Vợ Con) — Mục ghi ấn phẩm Nhật năm 1936 nói Mó Na giết vợ con, nhưng những người thế hệ này biết sự kiện này sau này xác nhận, vợ Mó Na thực ra tự treo cổ, vì tự sát vợ con là vi phạm Gaya tộc Seediq.↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Xác Minh Của Những Người Thế Hệ) — Cùng mục ghi nguyên văn "Vì tự sát vợ con là vi phạm Gaya tộc Seediq, những người thế hệ này biết sự kiện này sau này xác nhận, vợ Mó Na Lũ Đạo thực ra tự treo cổ".↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Thống Kê Thương Vong) — Wikipedia tiếng Trung chia chết của sáu xã thành dao kiếm 85, bắn phá 137, pháo 34, lấy đầu 87, treo cổ 296, cộng 639, ngoài ra bị bắt 265, đầu hàng khoảng 500, những người khởi sự 1.236; Wikipedia tiếng Anh ghi những người khởi sự khoảng 1.200, tử vong 644, treo cổ 290, con số không đối lên nhưng hướng nhất quán.↩
- Wikipedia: Seediq·Bale — Mục ghi phim Vũ Đức Thánh năm 2011 "Seediq·Bale" (phần một "Lá Cờ Mặt Trời", phần hai "Cầu Vồng") tổng doanh thu Đài Loan khoảng 880 triệu, vào danh sách dự tuyển Liên Hoan PhimVenezia, đoạt giải Kim Mã Phim Chính Kịch Xuất Sắc, vào danh sách chín Oscar Phim Ngoại Ngữ Xuất Sắc, diễn viên thành niên Mó Na là Lâm Khánh Đài.↩
- Guava Nhân Loại Học: Quác Minh Chính Bình "Seediq·Bale" Mất Mát Văn Hóa — Guava Nhân Loại Học tổng hợp chỉ trích của cố vấn văn hóa phim Quác Minh Chính (Dakis Pawan): "tế lễ máu cho tổ tiên" "tự hào" là đạo diễn phát minh, Mó Na nổ súng giết vợ vi phạm Gaya (đã cảnh báo Vũ Đức Thánh nhưng vẫn quay), xuống hạ được làm đẹp thành thành tựu nam tính cá nhân.↩
- Taiwan Insight: Uế Lịch Tư·Nô Cán Chỉ Trích Chủ Nghĩa Anh Hùng Cá Nhân — Bài báo chuyển tải phê bình của nhà văn bản địa Uế Lịch Tư·Nô Cán về chủ nghĩa anh hùng cá nhân của phim vi phạm truyền thống: lãnh đạo truyền thống bộ tộc tuân theo quyết định tập thể, không có ai có thể tự quyết định.↩
- Purdue CLCWeb: Lâm Tân Như Luận Chính Trị Văn Hóa Giới Tính "Seediq·Bale" — Tạp Chí So Sánh Văn Học Và Văn Hóa CLCWeb Đại Học Purdue tập 20 kỳ 5 (2018) đăng bài của Lâm Tân Như, tổng hợp mục từ vấn đề mất mát văn hóa và tái hiện giới tính của "Seediq·Bale".↩
- Wikipedia: Dư Sinh—Seediq·Bale — Mục ghi phim tài liệu Tương Hoa Trúc năm 2014 "Dư Sinh—Seediq·Bale" vào danh sách dự tuyển Kim Mã lần thứ 50 Phim Tài Liệu Xuất Sắc Và Âm Thanh Xuất Sắc (cuối cùng không đoạt), theo sau hậu duệ những người sống sót, đi tìm quê hương linh tổ Pusu Qhuni (tảng đá Mẫu Đơn).↩
- China Perspectives: Sebastian Veg Luận Vũ Hạc "Dư Sinh" — Bài đánh giá sách tạp chí "China Perspectives" của Pháp, phân tích tiểu thuyết Vũ Hạc "Dư Sinh" phỏng vấn hậu duệ những người sống sót, chỉ trích Lý Đăng Hui lập bia, Trần Thủy Biển phát hành tiền xu là chính trị hoá chứ không phải thương tiếc thực sự, những người sống sót sống trong im lặng xấu hổ.↩
- Công Khai Tối Tân: Seediq Tách Ra Từ Thái Anh Chính Danh Thành Tộc Người Bản Địa Thứ 14 — Tin Công Khai Tối Tân báo cáo 23 tháng 4 năm 2008 Seediq tách ra từ Thái Anh, chính thức chính danh thành tộc người bản địa thứ 14 Đài Loan, dưới bao gồm ba nhóm phương ngữ Tê Cố Đạt Dạ, Đạo Trạch, Đức Lộ Cố.↩
- Phủ Tổng Thống Bản Tin: Tổng Thống Đại Diện Chính Phủ Xin Lỗi Những Người Bản Địa Đài Loan — Bản Tin Chính Thức Phủ Tổng Thống Trung Hòa Dân Quốc, toàn bộ nội dung ghi lại Tổng Thống Thái Anh Văn Ngày Người Bản Địa Đài Loan 1 tháng 8 năm 2016 đại diện chính phủ xin lỗi "Trong bốn trăm năm, mỗi chế độ chính quyền từng đến Đài Loan, bằng cách chinh phục quân sự, lấy cúp đất đai, đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền hiện có của người bản địa Đài Loan".↩
- Phủ Tổng Thống Bản Tin: Ủy Ban Lịch Sử Công Lý Và Công Lý Chuyển Tiếp Người Bản Địa Đài Loan — Cùng bản tin ghi Tổng Thống thành lập Ủy Ban Lịch Sử Công Lý Và Công Lý Chuyển Tiếp Người Bản Địa Đài Loan, do Bác Sĩ Pháp Luật Seediq Thái Chí Vĩ (Awi Mona, bác sĩ pháp luật bản địa đầu tiên Đài Loan) làm phó chủ tịch nhóm đất.↩
- Hong Kong 01: Tranh Cãi Xác Định Lãnh Thổ Truyền Thống — Báo cáo tổng hợp năm 2017 phương pháp xác định lãnh thổ truyền thống loại bỏ đất riêng, rút gọn phạm vi có thể xác định từ khoảng 1,8 triệu héc ta còn khoảng 800.000 héc ta, gây ra cuộc đấu tranh dài năm ở Kai Tao.↩
- Domino Theory: Đáp Lại Của Hậu Duệ Seediq Khi Trung Quốc Tái Chiếu — Báo cáo ghi lại năm 2025 "Seediq·Bale" được chiếu lại ở Trung Quốc với tên "giải phóng 80 năm", hậu duệ Seediq Uế Lực Tư Bawan được phỏng vấn đáp lại: "Đây là việc của Trung Quốc và Nhật Bản. Họ dùng một bộ phim về chúng tôi để nói cảm xúc của chúng tôi, nhưng Trung Quốc chưa bao giờ đến hỏi chúng tôi".↩
- Columbia University Press: "The Musha Incident: A Reader" — Độc Giả Sự Kiện Wushe của Nhà Xuất Bản Đại Học Columbia trình bày vấn đề cốt lõi: Mó Na·Lũ Đạo bị ba phía tuyên bố (dân tộc chủ nghĩa người Hoa/Đài Loan, tường thuật dân tộc Trung Hoa, im lặng của hậu duệ Miệt Phương), ba phía với cùng một người có ba quan hệ không thể tương thích, và chính người bị chiếm dụng từ lâu không bao giờ được hỏi.↩
- ETtoday: Bộ Tộc Thanh Lưu Và Lúa Xuyên Trung — Báo cáo Du Lịch ETtoday giới thiệu Bộ Tộc Thanh Lưu (Gluban, Huyện Nhân Ái Tỉnh Nam Đầu) trồng "Lúa Xuyên Trung" (Đài Cương 9 hào, thời kỳ Nhật trị từng tiến cúng Thiên Hoàng), và nhắc tới cách gọi thường thấy trên báo là "bộ tộc bản địa có trình độ giáo dục cao nhất, tập trung viên chức công vụ nhất" (không có thống kê chính thức hỗ trợ, chỉ là cách nói phổ biến).↩
- Đài Loan Quốc Tế Liên Hoan Phim Tài Liệu (TIDF): "Dư Sinh—Seediq·Bale" — Giới Thiệu Tài Liệu Liên Hoan Phim Tài Liệu Quốc Tế Đài Loan về phim "Dư Sinh" của Tương Hoa Trúc, lấy hậu duệ những người sống sót đi tìm quê hương linh tổ Pusu Qhuni làm trục chính, đối mặt với tường thuật kỳ tích của "Seediq·Bale".↩
- Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Đài Loan Sưu Tập: Ảnh Cái Đầu Sự Kiện Wushe Lần Thứ Hai — Mạng sưu tập Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Đài Loan, ảnh lịch sử (số đăng ký 2017.025.0192.0019), ghi lại lịch sử nhóm Đạo Trạch thân Nhật tấn công trại bảo vệ bản địa, chặt 101 cái đầu sự kiện Wushe lần thứ hai.↩
- China Times: Sự Kiện Wushe Lần Thứ Hai — Báo cáo China Times tổng hợp sự kiện Wushe lần thứ hai (25 tháng 4 năm 1931) Cảnh Sát Nhật Tiểu Đảo Nguyên Trị kích động nhóm Đạo Trạch tấn công đêm trại bảo vệ, mở ra bốn mức tiền thưởng đầu thủ lĩnh/chiến sĩ/phụ nữ/trẻ em, sau này nhóm Đạo Trạch chia được đất của sáu xã khởi sự.↩
- Wikipedia: Thiết Mộc·Uế Lực Tư — Mục ghi tổng thủ lĩnh nhóm Đạo Trạch Thiết Mộc·Uế Lực Tư (khoảng 1898–1930/11/11) và nhóm Tê Cố Đạt Dạ có mâu thuẫn cũ về cơi ổn định, Nhật Bản lâu nay gây xuyên tạc, Tiểu Đảo Nguyên Trị tận dụng bối cảnh này.↩
- Wikipedia: Thiết Mộc·Uế Lực Tư (Đoạn Phim Là Hư Cấu) — Mục trích dịch giả tiếng Seediq Iwan Pering xác minh, theo Gaya Mó Na hoàn toàn không thể xâm lấn cơi ổn định của nhóm khác, hai người thậm chí có thể có quan hệ nhân duyên, phim kéo chúng thành mâu thuẫn cá nhân không thể chung mái nhà là hư cấu.↩
- Wikipedia: Sự Kiện Wushe (Đoạn Đánh Giá Nhóm Đạo Trạch) — Mục chuyển tải vị trí của Quác Minh Chính (Dakis Pawan) từ chối lên án nhóm Đạo Trạch là "phản bội thân Nhật": "Đã hứa người ta, Seediq phải làm cho đến cùng, đây cũng là tinh thần Seediq Bale".↩
- Columbia University Press: Michael Berry Biên Tập "The Musha Incident: A Reader" — Nhà xuất bản Đại học Columbia năm 2022 phát hành độc giả sự kiện Wushe, gồm chương Nakao Eki Pacidal khám phá Hoa Cương Nhất Lang, Nhị Lang là "những người ở giữa" (inbetweener) được Nhật Bản dạy dỗ.↩
- Wikipedia: Hoa Cương Nhất Lang — Mục ghi Hoa Cương Nhất Lang (Đạt Kỳ Tư·Nô Tân) học qua Trung Học Đài Trung, sự kiện xảy ra trước tiên xử lý gia đình rồi tự đâm bằng dao bản, Hoa Cương Nhị Lang (Đạt Kỳ Tư·Na Uê) dẫn dân tộc treo cổ, hai người không phải anh em ruột, cùng xuất thân từ xã Hồ Cô.↩
- Aichi留魂錄: Lá Thư Di Chúc Tiếng Nhật Hoa Cương Nhị Lang — Mạng tiếng Nhật lưu trữ nguyên văn bức thư di chúc tiếng Nhật Hoa Cương Nhị Lang 27 tháng 10 năm 1930, bắt đầu "我等は此の世を去らねばならぬ/蕃人のこうふんは出役の多い為にこんな事件になりました", giải thích gốc gác nổi loạn từ lao động quá nặng.↩
- Wikipedia: Hoa Cương Nhị Lang — Mục ghi vợ Hoa Cương Nhị Lang Cao Sơn Sơ Tử (tên Seediq Nga Tân·Tá Đạt Ô) sống sót, sau này trở thành nhân chứng quan trọng nhất của nhà văn Đặng Tương Dương trong nghiên cứu sự kiện Wushe.↩
- Đài Loan Phát Sóng: Vòng Lặp Bắt Đầu Và Kết Thúc Xương Mó Na·Lũ Đạo — Báo cáo tổng hợp quá trình xương Mó Na, ghi con trai hoàn cảnh Hoa Cương Nhị Lang Cao Quang Hoa (Awi Dakis, 1930–2001) sau này làm trưởng huyện Nhân Ái, chính là người năm 1973 đón xương Mó Na về.↩
- Wikipedia: Bộ Tộc Thanh Lưu (Đoạn Di Cư Bắt Buộc Xuyên Trung Đảo) — Mục ghi 6 tháng 5 năm 1931 khoảng 298 người sống sót từ sáu xã khởi sự (tài liệu tiếng Nhật nói 278 người) bị buộc di cư tới "Xuyên Trung Đảo" (cao nguyên bao quanh bởi Sông Bắc Cảng, Sông Miên Nguyên, Sông A Bì Tư), cấm quay lại, bị xử tử 3 người cố gắng quay lại, bệnh lỵ chảy máu nước lỏng và sốt rét lây lan.↩
- Wikipedia: Thạch Tủa Anh Tàng — Mục ghi sau sự kiện Wushe, Tổng Đốc Đài Loan Thạch Tủa Anh Tàng và Bộ Trưởng Tổng Vụ Nhân Kiến Thứ Lang 16 tháng 1 năm 1931 mất chức, Giám Đốc Cảnh Sát Thạch Tỉnh Bảo, Tri Sự Đài Trung Thủy Việt Hạnh Nhất cũng mất chức.↩
- University of California Press: Paul D. Barclay "Outcasts of Empire" — Chuyên đề Barclay từ góc độ sửa chữa đập nát thần thoại "một dân tộc đoàn kết chống bạo lực" sạch sẽ, chỉ ra nhóm Đạo Trạch, Đạo Trạch hợp tác với Nhật giết những người khởi sự, dấu lửa là xấu hổ và lao động trước mặt chứ không phải kế hoạch tiêu diệt toàn tộc, nhưng cũng nhấn mạnh cách Nhật Bản đáp lại là "genocidal fury".↩
- Đài Loan Phát Sóng: Phát Hiện Và Xác Minh Xương Mó Na·Lũ Đạo — Báo cáo ghi 6 tháng 7 năm 1933 thợ săn xã Ba Ác Luân phát hiện xương trong hang đá bên phải Sông Maha Bô, con gái Mó Na Mã Hồng·Mó Na dựa vào vật dụng xác minh danh tính.↩
- oh!Sir: Bốn Mươi Năm Mẫu Vật Của Xương Mó Na·Lũ Đạo Và Chính Trị Ký Ức — Bài viết chuyên sâu tổng hợp xương Mó Na 13 tháng 6 năm 1934 triển lãm công khai tại Sở Quận Năng Cao (gần muười nghìn khách quanh co), 1 tháng 7 triển lãm trên tủ kính tại triển lãm cảnh sát ở vườn thực vật, khách quan tâm nhất là xương Mó Na.↩
- Phong Truyền Truyền Thông: Bốn Mươi Năm Mẫu Vật Xương Mó Na·Lũ Đạo — Bài viết chuyên sâu Phong Truyền ghi xương 28 tháng 6 năm 1934 gửi tới Đại Học Đế Quốc Đài Bắc, do bài giảng Nhân Loại Học Phong Tục Idegawa Shinosuke tiếp nhận, sau đó do nhà khoa học giải phẫu Kinseki Takeo thực hiện nghiên cứu "bàn chân lớn", từ đó trở thành mẫu vật nhân học có số hiệu khoảng bốn mươi năm.↩
- Đài Loan Phát Sóng: Bức Thư Của Lý Dã Viên Cho Hiệu Trưởng Diễm Chấn Hưng Và Trả Lại Xương — Báo cáo ghi 17 tháng 9 năm 1973 Lý Dã Viên Đại Diện Chủ Tịch Khoa Khảo Cổ Nhân Loại Học Đại Học Đài Loan viết thư cho Hiệu Trưởng Diễm Chấn Hưng đề xuất trả lại xương, 24 tháng 12 cùng năm Mó Na·Lũ Đạo rời Đại Học Đài Loan.↩
- oh!Sir: Mẫu Vật Và Bằng Chứng "Nguyên Thủy" Của Sự Mỉa Mai — Bài viết chỉ ra sự kiện Wushe ban đầu được thực dân dùng để "chứng minh" người bản địa "nguyên thủy" "man rợ", nhưng Mó Na chết rồi lại làm bốn mươi năm mẫu vật nhân học, chính là sự mỉa mai của nhân loại học.↩
- Phong Truyền Truyền Thông: Xương Mó Na·Lũ Đạo Và Nghi Thức Người Hoa Trong Chôn Cất — Báo cáo ghi lễ chôn cất do Chủ Tịch Tổng Thống Đài Loan Tạ Đông Bản chủ trì, dùng toàn bộ nghi thức người Hoa (linh đường, vòng hoa, tiếng khóc, xe linh), bia trước mộ lập cây cổng trắng kiểu Trung Quốc.↩
- Columbia University Press: Giới Thiệu Sách "The Musha Incident: A Reader" — Giới thiệu sách của Nhà Xuất Bản Đại Học Columbia, Michael Berry chỉ ra sự kiện Wushe bị ba phía chiếm dụng: người Nhật chứng minh "man rợ", chính phủ quốc dân tuyên bố là chứng cứ anh dũng người Đài Loan và đoàn kết với người Trung Quốc, những người chủ trương độc lập coi nó là mẫu mực của truyền thống văn hóa "thực thụ".↩
- Wikipedia: Mó Na·Lũ Đạo (Đoạn Sùng Kính Chiến Hậu) — Mục ghi Mó Na năm 1969 được vào Đền Thờ Liệt Sĩ (người bản địa đầu tiên), năm 1970 Viện Hành Pháp trao bằng khen (Bộ Nội Vụ Từ Khánh Tùng ký) lịch sử sùng kính chiến hậu.↩
- Hong Kong 01: Lịch Sử Tái Xây Dựng Bia Tưởng Niệm Wushe — Báo cáo lịch sử thay đổi bia tưởng niệm Wushe: năm 1950 Cao Vĩnh Thanh phá hủy đền thờ thành lập "Bia Tưởng Niệm Dư Sinh", năm 1953 lập "Máu Anh Dũng Gió Anh Dũng" cánh cổng và bia tưởng niệm các nạn nhân (Chủ Tịch Tổng Thống Đài Loan Ngô Quốc Triệp ký), sau khi Ngô Quốc Triệp gặp bê bối sửa thành "Bia Tưởng Niệm Khởi Nghĩa Chống Nhật Bản Địa Wushe" (Hoàng Kiệt ký).↩
- Hong Kong 01: Cố Hằng Trương Luận Bia Tưởng Niệm Và Chính Trị Ký Ức — Báo cáo trích dẫn quan điểm của nhà sử học Cố Hằng Trương bài "Ký Ức Chảy Lượn" (Tạp Chí Lịch Sử Đài Loan 29 tập 1 kỳ, 2022) chỉ ra mỗi lần chính quyền thay đổi người ký tên sẽ đổi, bia văn sẽ khắc lại, nhà nước khắc chính trị ký ức vào cùng tảng đá.↩
- Bảo Tàng Kỷ Vật Kỷ Vật Điện Tử Ngân Hàng Trung Ương: Mục Đích Phát Hành Tiền Xu Hai Mươi Ngàn — Trang chính thức Ngân Hàng Trung Ương ghi lý do chính thức phát hành tiền xu hai mươi ngàn là "để tôn trọng lịch sử văn hóa người bản địa Đài Loan, thúc đẩy hòa hợp các cộng đồng dân tộc".↩
🧬 Semiont đã nghĩ gì khi viết bài này