Ở những cánh đồng rau hành Tam Tinh, Nghi Lan, một thanh niên 33 tuổi quay lại nông thôn đang dùng điện thoại để phát sóng trực tiếp quá trình thu hoạch, giới thiệu bí quyết trồng rau hành hữu cơ Tam Tinh cho khán giả online. Ở đầu bên kia màn hình, những người tiêu dùng tại Đài Bắc đã đặt hàng sẵn. Cảnh tượng này là không thể tưởng tượng được 50 năm trước—lúc đó, những người nông dân đang lo lắng về dư thừa sản lượng lúa gạo, người trẻ tuổi đang hàng loạt rời khỏi nông thôn để vào làm công nhân. Ngày nay, nông nghiệp Đài Loan đã thay đổi từ "vương quốc lúa gạo sản xuất hàng loạt" thành "mẫu nông nghiệp tinh tế," nông thôn cũng từ những khu vực tàn lụi mất dân cư, đã tái sinh thành những vùng đất mới nơi sáng tạo và phát triển bền vững cùng tồn tại.
Đất nông nghiệp của Đài Loan chỉ chiếm 24% diện tích đất nước, giá trị sản xuất năm từ lâm nông thủy hải sản ban đầu khoảng 351,3 tỉ Tệ tệ (năm 2023; toàn chuỗi khẩu phần nông sản bao gồm nhà hàng đạt 1 nghìn 683,5 tỉ Tệ tệ)1. Dân số lao động nông nghiệp chiếm khoảng 4,4% tổng dân số lao động toàn quốc (thống kê năm 2023 của Bộ Nông nghiệp, khoảng 509.000 người)1, phía sau là một chuỗi sản xuất hoàn chỉnh liên quan đến sinh kế của 6 triệu người.
Tại sao vấn đề này lại quan trọng
Nông nghiệp là nền tảng của văn hóa và sinh thái Đài Loan, đồng thời cũng là ngành công nghiệp quan trọng hỗ trợ toàn bộ xã hội. Từ việc lai tạo giống lúa Bồng Lai thời kỳ Nhật trị, cải cách ruộng đất sau chiến tranh, đến nông nghiệp tinh tế ngày nay, lịch sử phát triển nông nghiệp Đài Loan chính là lịch sử thay đổi xã hội. Khi toàn cầu đối mặt với thách thức an ninh lương thực, kinh nghiệm chuyển đổi nông nghiệp của Đài Loan—làm thế nào để đạt được sản lượng cao trên diện tích đất hạn chế, làm thế nào thông qua cải tạo cộng đồng để làm cho nông thôn tái sinh—đã cung cấp những bài học quý báu cho nhiều nước đang phát triển.
Từ vương quốc lúa gạo đến nông nghiệp tinh tế
1950-1980: Thời kỳ vàng của vương quốc lúa gạo
Nền tảng từ cải cách ruộng đất:
Cải cách ruộng đất trong giai đoạn 1949-1953 đã chuyển đổi hệ thống địa chủ lớn thời Nhật trị thành "những người chủ trang trại ruộng đất của chính họ," kích thích động lực sản xuất của nông dân. Kết hợp với việc đẩy mạnh các giống lúa Bồng Lai chất lượng cao, sản lượng lúa gạo Đài Loan tăng nhanh chóng.
Cuộc cách mạng xanh:
- Những năm 1960 đã áp dụng công nghệ của Viện Nghiên cứu Lúa Gạo Quốc tế (IRRI)
- Đẩy mạnh sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
- Thiết lập hệ thống thủy lợi nông ngành
- Sản lượng lúa gạo tăng từ 2,8 tấn/ha năm 1950 lên 4,5 tấn/ha năm 19801
Thiết lập hệ thống hội nông dân:
Hội nông dân trở thành cầu nối giữa nông dân và chính phủ, chịu trách nhiệm:
- Đẩy mạnh công nghệ nông nghiệp
- Thu mua và bán sản phẩm nông sản
- Cung cấp dịch vụ tài chính nông nghiệp
- Đào tạo và giáo dục nông dân
1980-2000: Điều chỉnh cấu trúc ngành
Với sự công nghiệp hóa tăng tốc, nông nghiệp phải đối mặt với di cư lao động và giảm lợi thế so sánh:
Khủng hoảng dư thừa lúa gạo:
- Những năm 1980, sản lượng lúa gạo dư thừa, chính phủ thực hiện "chính sách giảm sản lượng lúa gạo"
- Khuyến khích chuyển trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao
- Bắt đầu chú trọng chất lượng sản phẩm nông sản hơn là sản lượng
Phát triển đa dạng hoá:
- Kỹ thuật trồng rau củ, trái cây nâng cao
- Ngành công nghiệp hoa và cảnh quan kỳ hoa phát triển
- Chăn nuôi hiện đại hóa
- Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản có những bước đột phá
2000-hiện tại: Mẫu nông nghiệp tinh tế
Chính sách nông nghiệp tinh tế:
Năm 2002 chính phủ chính thức đưa ra khái niệm "nông nghiệp tinh tế"2, nhấn mạnh:
- Chất lượng cao, giá trị gia tăng cao
- Thân thiện với môi trường và phát triển bền vững
- Ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo
- Xây dựng thương hiệu và quốc tế hoá
Con đường tái sinh cộng đồng nông thôn
Phong trào cải tạo cộng đồng nông thôn
Khởi đầu cải tạo cộng đồng những năm 1990:
Lấy cảm hứng từ phong trào "một làng một sản phẩm" của Nhật Bản, Đài Loan bắt đầu thúc đẩy cải tạo cộng đồng toàn thể:
- Khám phá đặc trưng địa phương và tài nguyên văn hóa
- Nuôi dưỡng ý thức cộng đồng và tinh thần nhất trí
- Kết hợp phát triển ngành công nghiệp và du lịch
- Thiết lập khả năng quản lý tự chủ của cộng đồng
Những trường hợp thành công:
Bắc Phú, Tân Trúc:
Kết hợp văn hóa Khách Gia và ngành công nghiệp trái hồng khô, phát triển du lịch văn hóa
- Bảo tồn kỹ thuật chế biến trái hồng khô truyền thống
- Tu sửa di tích và các tòa nhà lịch sử
- Phát triển hoạt động lễ hội trái hồng khô
- Xây dựng thương hiệu trái hồng khô và kênh phân phối
Cộng đồng Đào Mễ, Nam Đầu:
Mẫu tái xây dựng sau trận động đất 921, từ đổ nát thành làng sinh thái
- Tái xây dựng bằng công pháp sinh thái
- Phát triển du lịch sinh thái và giáo dục môi trường
- Nhà giáo đường giấy trở thành biểu tượng tái sinh của cộng đồng
- Cơ sở nghiên cứu và bảo vệ sinh thái ơi gọi
Điều lệ tái sinh nông thôn và thực hành
Năm 2010 Điều lệ tái sinh nông thôn được phê chuẩn:
- Điều lệ tái sinh nông thôn đã định luật đầu tư 150 tỉ Tệ tệ vào quỹ tái sinh nông thôn trong 10 năm (được lập pháp vào năm 2010 dương lịch)3
- Thúc đẩy kế hoạch tái sinh theo đơn vị cộng đồng
- Kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao phần mềm
- Nhấn mạnh quy hoạch tham gia từ dưới lên
Chiến lược tái sinh:
- Hoạt hóa ngành công nghiệp: Phát triển sản phẩm nông sản đặc trưng và công nghiệp nông nghiệp bậc sáu
- Bảo tồn văn hóa: Bảo vệ kiến trúc truyền thống và tài sản văn hóa phi vật thể
- Cải thiện môi trường: Cải tạo kênh dẫn nước, đường mòn và không gian công cộng
- Đào tạo nhân tài: Thanh niên quay lại nông thôn và đào tạo lãnh đạo cộng đồng
Làn sóng thanh niên quay lại nông thôn
Sự trỗi dậy của nông dân mới
Làn sóng quay lại nông thôn sau năm 2010:
Chịu ảnh hưởng từ các sự cố an toàn thực phẩm và theo đuổi chất lượng sống, ngày càng nhiều thanh niên chọn quay lại nông thôn để làm nông:
- Thanh niên tốt nghiệp đại học chiếm 40% những người quay lại nông thôn
- Tuổi trung bình của nông dân mới là 35 tuổi, thấp hơn nông dân truyền thống
- Hầu hết có chuyên môn không phải từ nông nghiệp
- Chú trọng vào môi trường thân thiện và quản lý thương hiệu
Mô hình kinh doanh nông nghiệp thế hệ mới
Nông nghiệp công nghệ:
- Nhà kính thông minh và hệ thống kiểm soát môi trường
- Phun phòng trừ sâu bằng flycam không người lái và giám sát
- Ứng dụng cảm biến vật liệu kết nối
- Phân tích dữ liệu lớn và hỗ trợ quyết định bằng AI
Quản lý xây dựng thương hiệu:
- Thiết lập thương hiệu cá nhân hoặc nông trại
- Giáo dục nông sản và hoạt động trải nghiệm
- Tiếp thị truyền thông xã hội
- Bán trực tiếp cho người tiêu dùng (giao hàng từ địa điểm sản xuất)
Công nghiệp nông nghiệp bậc sáu:
- Sản xuất bậc một: sản phẩm nông sản an toàn chất lượng cao
- Chế biến bậc hai: chế biến và đóng gói sản phẩm nông sản
- Dịch vụ bậc ba: trải nghiệm du lịch và dịch vụ nhà hàng
- Hiệu ứng tổng hợp 1×2×3=6
Những trường hợp quay lại nông thôn thành công
"Lương thực tốt Nông sản sáng tạo" Đại Đê, Vân Lâm:
Thanh niên tốt nghiệp Đại học Đài Loan quay lại nông thôn, chuyển đổi kinh doanh dưa chua gia tộc:
- Đưa vào hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm HACCP
- Phát triển các món ăn sáng tạo từ dưa chua và sản phẩm thương mại
- Kết hợp giáo dục nông sản và trải nghiệm nông trại
- Thiết lập hệ thống bán hàng online và giao hàng tận nhà
"Nông trại sinh thái Na Phú Nà" Lễ Nạp Lý, Bình Đông:
Mẫu tái xây dựng của người bản địa Nam Đảo sau thảm họa bão Morakot:
- Trồng lúa mạch đỏ hữu cơ và lúa nhỏ
- Kết hợp kiến thức nông nghiệp truyền thống với công nghệ hiện đại
- Phát triển du lịch sinh thái bộ lạc
- Đẩy mạnh giáo dục văn hóa người bản địa Nam Đảo
Sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ
Quá trình phát triển nông nghiệp hữu cơ
Phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Đài Loan có thể chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn nẩy mầm từ 1980-1995, Quỹ Phát triển Nông nghiệp Hữu cơ Tâm Tín được thành lập, Liên minh Chủ thọ thúc đẩy mua sắm chung, ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng bắt đầu thức tỉnh. Giai đoạn tăng trưởng từ 1995-2007, hệ thống xác nhận sản phẩm nông sản hữu cơ được thiết lập, dự thảo Luật thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ bước vào giai đoạn nghị lựa, quy mô thị trường nông sản hữu cơ mở rộng. Sau năm 2007 bước vào giai đoạn thể chế hóa: Luật sản xuất và xác nhận sản phẩm nông sản được phê chuẩn, Luật thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ được thi hành năm 2018, năm 2023 diện tích xác nhận hữu cơ đạt 17.365 hecta, số hộ nông dân hữu cơ đạt 5.131 hộ4.
Thách thức và cơ hội của nông nghiệp hữu cơ
Những thách thức chính của nông nghiệp hữu cơ nằm ở tổn thất thu nhập trong giai đoạn chuyển tiếp, ngưỡng kỹ thuật phòng trừ sâu hữu cơ cao, cũng như khó khăn trong việc thiết lập kênh tiêu thụ, độ chấp nhận giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm nông sản hữu cơ cũng vẫn là yếu tố giới hạn. Mặt khác, nhận thức an toàn thực phẩm nâng cao đã kích thích nhu cầu nông nghiệp hữu cơ, kết hợp với hỗ trợ chính sách của chính phủ, tăng trưởng thị trường nông sản hữu cơ quốc tế và kết hợp du lịch sinh thái, động lực tăng trưởng của nông nghiệp hữu cơ đã rõ ràng tăng cường.
Sự phát triển của hệ thống hội nông dân
Chức năng hội nông dân truyền thống
Hội nông dân truyền thống có chức năng kép về chính trị và kinh tế: về chính trị đại diện lợi ích của nông dân, công bố chính sách nông nghiệp, động viên cơ sở tổ chức nông thôn; về kinh tế thực hiện xuất khẩu chung sản phẩm nông sản, mua sắm chung vật liệu nông nghiệp, dịch vụ tài chính nông nghiệp và bảo hiểm, cũng như thúc đẩy công nghệ nông nghiệp.
Chuyển đổi hiện đại của hội nông dân
Dịch vụ hội nông dân hiện đại đã mở rộng từ nông nghiệp sang bán lẻ siêu thị, du lịch giải trí nhà hàng, chăm sóc lâu dài cộng đồng và giáo dục văn hóa, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật số—nền tảng mua sắm online, thanh toán kỹ thuật số, phân tích dữ liệu lớn nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp thông minh, tạo thành bốn chiều của nâng cấp kỹ thuật số của hội nông dân.
Những trường hợp chuyển đổi thành công:
Hội Nông dân Cổ K坑, Vân Lâm: Với việc xây dựng thương hiệu cà phê Cổ K坑làm lõi, mở rộng tới lễ hội văn hóa cà phê, du lịch chủ đề cà phê và quản lý nông sản tinh tế, hình thành con đường hoàn chỉnh của công nghiệp văn hoá.
Đổi mới công nghệ nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp thông minh
Nông nghiệp thiết bị có nhà kính thông minh, tưới tiêu và bón phân tự động, nhà máy thực vật LED và nông trại thẳng đứng làm trục chính, nông nghiệp chính xác tích hợp định vị GPS cho máy nông nghiệp, bón phân thay đổi, giám sát sinh trưởng cây trồng và mô hình dự báo sản lượng. Ứng dụng công nghệ sinh học bao gồm lai tạo giống kháng sâu bệnh, phát triển phân bón vi sinh vật, chọn lựa có hỗ trợ đánh dấu gen và sản xuất cây con bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, ba chiều chung tạo thành khung kỹ thuật nông nghiệp thông minh của Đài Loan.
Nền tảng nông nghiệp kỹ thuật số
Hệ thống lịch sử sản xuất thông qua mã QR theo dõi quá trình sản xuất, trình bày thông tin an toàn thực phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng, xây dựng niềm tin và nâng cao giá trị thương hiệu. Nền tảng thương mại điện tử nông nghiệp tích hợp bán hàng online, giao hàng từ địa điểm sản xuất, đặt trước trải nghiệm nông trại và chia sẻ kiến thức nông nghiệp, cho phép nông dân vượt qua người trung gian để tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng.
Những thách thức hướng tới tương lai
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Công cụ chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm lai tạo giống kháng hạn chịu ngập, tăng cường phòng chống thảm họa trong nông nghiệp thiết bị, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm nông nghiệp và cơ chế hướng dẫn tái trồng sau thảm họa; mô hình sản xuất bền vững thì thúc đẩy cùng lúc từ bốn khía cạnh là nông nghiệp lưu trữ carbon, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì sức khỏe đất.
Bảo đảm an ninh lương thực
Đối mặt với biến động giá thế giới và rủi ro chuỗi cung ứng, chiến lược an nicc lương thực của Đài Loan bao gồm nâng cao tỷ lệ tự cung cấp, thiết lập kho dự trữ lương thực chiến lược, phát triển nguồn protein thay thế, cũng như tăng cường hợp tác lương thực khu vực.
Truyền thừa thế hệ và đổi mới sáng tạo
Trọng tâm của truyền thừa kỹ thuật nông nghiệp nằm ở bảo tồn kiến thức nông pháp truyền thống, trao đổi kinh nghiệm giữa thế hệ cũ và mới, hoàn thiện hệ thống giáo dục nông nghiệp và hệ thống đào tạo nông dân nghề; nâng cấp ngành công nghiệp thì gồm nông nghiệp giá trị gia tăng cao, sự khởi đầu của ngành dịch vụ nông nghiệp, mở rộng thị trường quốc tế và xây dựng giá trị thương hiệu làm hướng.
Hy vọng mới của nông thôn
Nông thôn Đài Loan ngày hôm nay, không còn là vùng lạc hậu theo ấn tượng truyền thống. Từ sự kiên trì của những người nông dân nhỏ hữu cơ, sáng tạo của thanh niên quay lại nông thôn, tới chuyển đổi của hệ thống hội nông dân, nông thôn đang tái định nghĩa giá trị của chính mình. Mảnh đất này mang theo năng lượng đa tầng của sản xuất lương thực, truyền thừa văn hóa, bảo vệ sinh thái và thử nghiệm đổi mới sáng tạo.
Dưới áp lực kép của toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu, kinh nghiệm chuyển đổi nông nghiệp và nông thôn của Đài Loan, có lẽ chính là tham chiếu quan trọng mà thế giới tìm kiếm trong con đường phát triển bền vững. Nông nghiệp Đài Loan đã trải qua ba giai đoạn chuyển đổi là vương quốc lúa gạo, tái tạo nông nghiệp tinh tế, tái sinh cộng đồng nông thôn, con đường tạo ra giá trị sản xuất cao trên diện tích đất hạn chế, đã được nhiều cơ quan nghiên cứu chính sách nông nghiệp châu Á lấy làm mẫu hình thành cho kinh tế nông dân nhỏ.
Đọc thêm
- 台灣中小企業與隱形冠軍
- 台灣外貿與全球供應鏈
Tài liệu tham khảo
- Báo cáo Thống kê Nông nghiệp hàng năm Bộ Nông nghiệp (bao gồm Tài khoản Vệ tinh Nông sản) — Giá trị sản xuất Lâm nông thủy hải sản hàng năm, số người lao động và thống kê Tài khoản Vệ tinh Nông sản↩
- Bộ Nông nghiệp Giải thích Chính sách Nông nghiệp Tinh tế — Tiến trình và mục tiêu chính sách thúc đẩy nông nghiệp tinh tế↩
- Cơ sở Dữ liệu Luật pháp Toàn quốc《Điều lệ Tái sinh Nông thôn》 — Điều lệ Tái sinh Nông thôn Điều 44: Cơ sở pháp lý của Quỹ Tái sinh Nông thôn 150 tỉ Tệ tệ trong 10 năm↩
- Bộ Nông nghiệp Cục Lương thực Thống kê Nông nghiệp Hữu cơ — Diện tích xác nhận hữu cơ, số hộ nông dân và thống kê chứng thực sản phẩm nông sản hữu cơ↩