Đài Loan tiêu trừ bệnh sốt rét: Liên Nhật Thanh và một dự án y tế công cộng đưa côn trùng vào quy trình quản lý

Năm 1946, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh sốt rét ở Chaozhou thành lập; từ những con muỗi dưới kính hiển vi khuẩn, Liên Nhật Thanh bước vào hiện trường phòng chống dịch bệnh tại Đài Loan. Năm 1965, Tổ chức Y tế Thế giới công nhận Đài Loan không có bệnh sốt rét — câu chuyện này liên quan đến viện trợ nước ngoài, nghiên cứu địa phương, phun thuốc trong ngôi nhà, y tế địa phương và sức mạnh quốc gia, đồng thời để lại những thách thức về giám sát bệnh truyền và trường hợp nhập khẩu từ bên ngoài.

Tháng 11 năm 1946, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh sốt rét ở Chaozhou, tỉnh Bình Đông thành lập. Liên Nhật Thanh (1927–2005), vào lúc 15 tuổi đã vào Trường Nghiên cứu Y học Nhiệt đới của Đại học Đài Bắc để làm việc tại phòng nghiên cứu côn trùng, sau này trở thành nhân vật trung tâm trong cuộc chiến chống sốt rét tại Đài Loan. Ngày 4 tháng 12 năm 1965, Đài Loan nhận giấy chứng nhận tiêu trừ bệnh sốt rét từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).1 2 3

Ba ngày này dễ bị xếp thành một câu chuyện anh hùng: người trẻ gặp thầy tốt, nghiên cứu muỗi, dẫn dắt nhóm làm việc để tiêu diệt bệnh. Nhưng thực tế, việc tiêu trừ bệnh sốt rét ở Đài Loan giống hơn là một cỗ máy thể chế. Nó kết nối kính hiển vi khuẩn, thuốc chống sốt rét, máy phun DDT, trạm y tế địa phương, quân đội, hệ thống hộ tịch và ngôi nhà của người dân, cuối cùng biến một bệnh lây lan tại nơi thành một rủi ro y tế công cộng cần phòng ngừa từ bên ngoài.[ ^1] 4 5

30 giây tóm tắt: Trong thời kỳ thuộc địa Nhật, Đài Loan từng là vùng dịch bệnh sốt rét; sau chiến tranh, hệ thống y tế phải tái cấu trúc và thiếu hụt nguồn lực. Năm 1946, Trung tâm Nghiên cứu ở Chaozhou kết nối Quỹ Rockefeller, các nhà nghiên cứu địa phương và mạng lưới phòng chống dịch bệnh địa phương; năm 1948, trung tâm được tái tổ chức thành Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Tỉnh Đài Loan. Việc phun DDT trong nhà, dùng thuốc chống sốt rét, nghiên cứu muỗi gây bệnh và giám sát trường hợp kéo dài khoảng hai thập kỷ, Đài Loan đạt chứng nhận tiêu trừ từ WHO vào năm 1965. Điểm đối lập trong câu chuyện này là: việc tiêu trừ không đồng nghĩa với sự biến mất của muỗi, mà để lại một hệ thống cần giám sát liên tục. 1 6 4

Đài Loan chưa từng hoàn toàn không có bệnh sốt rét

Bệnh sốt rét không phải là một bệnh không liên quan gì đến bản đồ nhiệt đới của Đài Loan. Triển lãm lịch sử của Đơn vị Quản lý Bệnh tật (Bộ Y tế và An sinh xã hội) ghi nhận, trong thời kỳ thuộc địa Nhật, số người chết hàng năm do sốt rét ở Đài Loan lên tới hàng chục ngàn. Kho ký ức Nhân quyền Quốc gia cũng chỉ ra rằng Chính phủ Tổng độc Đài Loan từng thành lập cơ sở phòng chống bệnh sốt rét, thông qua hệ thống bảo hành (xã hội tự quản) thúc đẩy khám bệnh, điều trị và vệ sinh môi trường, tạm thời kiểm soát dịch bệnh. 1 4

Kinh nghiệm thời kỳ thuộc địa Nhật không thể đơn giản hóa thành "Nhật Bản làm trước, sau chiến tranh chúng ta làm sau". Hệ thống bảo hành cung cấp con đường tiếp cận hành chính vào các ngôi làng, nhưng đồng thời đưa hoạt động phòng chống dịch bệnh vào cấu trúc kiểm soát của cai trị thuộc địa. Sau khi chiến tranh bùng phát, thuốc quinine sản xuất tại Đài Loan được ưu優 tiên vận chuyển đến các chiến trường Nam Á, các cơ sở y tế bị bom đạn phá hủy, môi trường vệ sinh xấu điệp, và bệnh sốt rét lan rộng trở lại. 4

Vấn đề sau chiến tranh do đó không chỉ là thiếu một loại thuốc đặc trị. Nhà nghiên cứu Trần Tử Nhiên (Tsai, Tzu-yi) tổng hợp lịch sử phòng chống sốt rét từ năm 1945 đến 1965 chỉ ra rằng cần phải xử lý đồng thời các vấn đề như cơ sở nghiên cứu, nguồn cung thuốc, nhân lực y tế, thống kê trường hợp và sự hợp tác của cộng đồng. Những hoạt động phòng chống sau này kết hợp nền tảng hành chính còn lại từ thời kỳ thuộc địa, kỹ thuật y tế công cộng phương Tây và các điều kiện môi trường địa phương của Đài Loan, dần hình thành một kế hoạch có thể vận hành được. 5

📝 Ghi chú biên tập viên
Lịch sử bệnh sốt rét ở Đài Loan không phải là câu chuyện một bác sĩ nước ngoài áp dụng một phương pháp y học cho bệnh địa phương. Điều thực sự thay đổi là cách một công nghệ được dịch thành những hành động hàng ngày mà nhân viên y tế, nhà nghiên cứu và cư dân làng có thể thực hiện.

Chaozhou: Tại sao trung tâm nghiên cứu lại chọn đặt ở đây

Năm 1946, Viện Nghiên cứu Y học Trung tâm được sứ mệnh đến Đài Loan để khảo sát, cho rằng kỹ thuật phòng chống sốt rét ở đây còn lạc hậu. Đại sứ của Quỹ Rockefeller tại Trung Quốc, Hồ Sĩ Xuân (Hsu Hsien-chi), cùng nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Y học Trung tâm, đến tháng 11 cùng năm, tìm kiếm một cơ sở để phối hợp công tác phòng chống sốt rét. Cuối cùng, trung tâm nghiên cứu được đặt tại Chaozhou, nơi có tỷ lệ dịch bệnh cao nhất. 4

Chaozhou nằm ở khu vực có mật độ bệnh cao nhất và cần nghiên cứu nhất, vì vậy trung tâm nghiên cứu không thể chỉ thực hiện thí nghiệm tách rời khỏi địa phương. Ban đầu, trung tâm sử dụng không gian của cơ sở phòng chống bệnh sốt rét ở Chaozhou thuộc thời kỳ thuộc địa Nhật; sau đó chuyển sang tòa nhà cũ của thiêng đường Chaozhou do chính quyền huyện Bình Đông cung cấp. Năm 1947, trung tâm lập thêm trạm nghiên cứu ngoài thực địa tại Thạch Lân (Shihihcung) và Kaohsiung, đưa hoạt động nghiên cứu từ một tòa nhà ra các môi trường địa lý khác nhau. 4

Công việc của trung tâm không chỉ dừng lại ở việc nhận dạng ký sinh trùng gây sốt rét trên giấy tờ. Trung tâm nghiên cứu sinh thái của muỗi gây bệnh, đào tạo nhân lực phòng chống sốt rét, thử nghiệm thuốc White Legs (Bạch Lạc) và Cloroquine, đồng thời giới thiệu phương pháp phun DDT trong ngôi nhà, xử lý ấu trùng ngoài đồng và phun phốt xoá tự động. Chaozhou vì vậy trở thành một cơ sở y tế công cộng đưa sinh học học, thử nghiệm thuốc, kỹ thuật y tế và đào tạo hành chính vào cùng một không gian. 4

Ngày 1 tháng 4 năm 1948, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh sốt rét được hợp nhất vào Sở Y tế Tỉnh Đài Loan, chuyển thành Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Tỉnh Đài Loan. Quỹ Rockefeller sau đó do tình hình chính trị Trung Quốc mà rút nhân sự và thiết bị, nguyên nguồn viện trợ quốc tế bị gián đoạn. Dù vậy, viện vẫn tồn tại; Hội Hỗ trợ Nông thôn Trung Quốc từ năm 1949 cung cấp hỗ trợ tài chính, giúp công tác phòng chống sốt rét tiếp tục được triển khai. 4

Thay đổi này thay đổi cách thức ghi nhận kết quả. Thành công của y tế công cộng ở Đài Loan không thể chỉ được viết thành "Mỹ hỗ trợ mang lại thành công", cũng không thể ngược lại thành "chỉ do chính nước mình hoàn thành". Các nguồn tài trợ bên ngoài mang đưa thiết bị, thuốc, đào tạo và chuẩn mực quốc tế; các tổ chức địa phương sau đó biến những nguồn lực này thành công việc có thể vượt qua các ngôi làng, ngôi nhà và thay đổi theo mùa. Nếu thiếu bất kỳ một bên nào, trung tâm nghiên cứu chỉ còn lại như một câu chuyện viện trợ ngắn ngủi. 4 5

Đài Loan phòng chống bệnh sốt rét: Từ cơ sở nghiên cứu đến giám sát liên tục
1946
Trung tâm Nghiên cứu Bệnh sốt rét Chaozhou
Được Quỹ Rockefeller và Viện Nghiên cứu Y học Trung tâm hợp tác thành lập
1948
Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Tỉnh Đài Loan
Trung tâm được hợp nhất vào Sở Y tế Tỉnh Đài Loan, chuyển thành cơ quan phòng chống dịch bệnh chính thức
1952
Trụ sở Chaozhou
Trụ sở và chi nhánh Chaozhou hợp nhất, trở thành cơ sở quan trọng cho kế hoạch tiêu trừ
1958
Học tập ở London
Liên Nhật Thanh nhận hỗ trợ từ WHO, học kỹ thuật phân tích kháng thuốc trùng côn trùng
1965
Chứng nhận tiêu trừ
WHO liệt kê Đài Loan trong danh sách tháng 11, Đơn vị Quản lý Bệnh tật ghi nhận ngày 4 tháng 12
1969
Chuyển văn phòng Namgang
Trụ sở Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét từ Chaozhou chuyển về Đài Bắc Namgang
2003
Ngoại giao y tế
Đài Loan mang kinh nghiệm phòng chống sốt rét đến Saint Helena
Nguồn: Bộ Y tế và An sinh xã hội, Kho ký ức Nhân quyền Quốc gia, WHO, Tạp chí Đối thoại Cựu sinh viên Đại học Đài Bắc

Liên Nhật Thanh trước tiên học cách gõ máy, chứ không phải tiêu diệt bệnh sốt rét

Liên Nhật Thanh sinh năm 1927 tại Đại Thạch (Dajia), Đài Bắc. Khi 15 tuổi, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, ông được giới thiệu vào Trường Nghiên cứu Y học Nhiệt đới của Đại học Đài Bắc để làm việc tại phòng nghiên cứu côn trùng, chủ yếu chịu trách nhiệm gõ máy tiếng Anh và xử lý hồ sơ. Theo ghi chép của Công viên Khoa học và Công nghệ, giáo sư Đô Minh Tam (Ōmori Minosuke), người quản lý trực tiếp ông, yêu cầu ông dừng gõ máy khi có khách đến, tập trung lắng nghe các cuộc thảo luận nghiên cứu. 2 3

Khoảnh khắc này cho thấy rõ hơn là "thiên tài thiên đường". Ông chưa từng nhận được đào tạo học thuật đầy đủ, mà là người đứng bên cạnh phòng làm việc, lắng nghe thảo luận về phân loại muỗi, bệnh nhiệt đới và phòng chống dịch bệnh, rồi tự thực hành quan sát dưới kính hiển vi. Người quản lý đại diện, ông Sanami (Senoo Takamitsu), để ông xác định mẫu trứng muỗi gây sốt rét; lần đầu tiên 10 mẫu, lần thứ hai 10 mẫu, cả hai đều chính xác. Sau đó, khi ông lấy mẫu từ hồ nước, ông phát hiện ra loài muỗi Anopheles sundaicus (một loài phổ biến ở vùng biển), từ đó xác định mục tiêu cuộc đời mình sẽ dành cho nghiên cứu muỗi. 3 7

Câu chuyện của Liên Nhật Thanh có một điểm dễ bị bỏ qua. Ông sau này được gọi là "tiến sĩ muỗi", không phải vì ông bắt đầu ở vị trí trung tâm của hệ thống nghiên cứu, mà vì một cậu thanh niên chỉ biết gõ máy tiếng Anh đã thông qua việc lắng nghe, thực hành, lấy mẫu và so sánh lặp lại, dần dần xức tích được thẩm quyền nghiên cứu. Đây là câu chuyện về khả năng cá nhân, cũng là câu chuyện về cách thể chế đôi khi để người ở vị trí biên lãnh thấy trung tâm của kiến thức. 2 3

Sau khi vào Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Tỉnh Đài Loan, ông thực hiện công tác ngoài thực địa khắp Đài Loan, tham gia vào cuộc chiến chống sốt rét, đồng thời nghiên cứu bệnh nhọn Nhật Bản, sốt xuất huyết và bệnh Lênh. Năm 1958, ông nhận hỗ trợ từ WHO để học tại Trường Y học Nhiệt đới và Y tế học London, học kỹ thuật phân tích kháng thuốc của muỗi trước thuốc trừ côn trùng. Kỹ năng này sau này không chỉ dùng để nhận dạng muỗi, mà còn để đánh giá liệu pháp phòng chống có còn hiệu quả hay không. 1 3 7

📝 Ghi chú biên tập viên
Điều đáng nhớ nhất về Liên Nhật Thanh không chỉ là ông đã tìm ra bao nhiêu loài muỗi cho Đài Loan, mà là cách ông biến "nhìn thấy một con muỗi" thành "biết một cộng đồng phòng chống dịch bệnh phải làm gì".

Sức mạnh của DDT: Nó có thể xuyên qua từng căn nhà

Cách thức phòng chống dịch bệnh trở thành nhịp điệu công việc địa phương

Phần thực sự khó khăn trong việc phòng chống sốt rét thường không phải là việc phát phát thuốc một lần, mà là cách duy trì hoạt động theo mùa và địa lý. Các nhà nghiên cứu cần biết mùa mưa bắt đầu khi nào, nhân viên y tế cần ghi lại các ngôi làng xuất hiện trường hợp, đội ngũ phun thuốc cần quay lại cùng một nhóm ngôi nhà để kiểm tra mức độ phủ, và cư dân địa phương cần chấp nhận kiểm tra, uống thuốc và được tuyên truyền y tế trong cuộc sống hàng ngày. Không có một khung cảnh nào có thể đại diện cho toàn bộ kết quả, mà chỉ có nhiều người thực hiện những việc nhỏ cho đến khi đủ thời gian.

Giá trị mà Trung tâm Nghiên cứu Chaozhou cung cấp chính là cách biến những hành động rời rạt này thành các quy trình có thể dạy học, so sánh và truy xuất. Mẫu muỗi có thể gửi vào phòng thí nghiệm, trường hợp bệnh có thể nhập vào bảng thống kê, thử nghiệm thuốc có thể phản hồi từ hiện trường, và việc phun thuốc trong nhà cũng có thể được thực hiện bởi những người được đào tạo. Khi một ngôi làng không còn trường hợp bệnh, các nhà nghiên cứu không thể ngay lập tức tuyên bố thành công, vì sự giảm có thể liên quan đến mùa, di cư dân cư hoặc chẩn đoán chưa đủ. Kế hoạch tiêu trừ cần phân biệt rõ giữa "không thấy trường hợp" và "thực sự không có lây lan tại nơi".

Điều này giải thích tại sao công tác phòng chống sốt rét lại đào tạo ra một nhóm kỹ sĩ quen thuận với địa phương. Họ biết con đường nào khó đi sau mưa, bề mặt tường nào khó giữ được hóa chất, và ngôi làng nào cần giải thích bằng ngôn ngữ hoặc cách khác. Kế hoạch chính thức cung cấp tiêu chuẩn, những người làm việc địa phương bổ sung sự chênh lệch môi trường, mới có cơ hội biến mục tiêu trên giấy thành nhịp điệu hàng ngày.

Ảnh minh họa việc phun DDT của Chương trình Tiêu trừ Sốt rét Quốc gia Mỹ năm 1958

Hình: Ảnh lịch sử về việc phun DDT để tiêu diệt muỗi của Chương trình Tiêu trừ Sốt rét Quốc gia Mỹ năm 1958. Hình ảnh được cung cấp bởi Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ, theo quyền công cộng của nhà nước Hoa Kỳ, public domain. Hình ảnh này không phải là hình ảnh thực tế tại Đài Loan, chỉ dùng để minh họa hình thức công tác phòng chống dịch bệnh quốc tế thời bấy giờ. Trang tệp ảnh: 8

Một công cụ quan trọng trong việc phòng chống sốt rét sau chiến tranh ở Đài Loan là DDT. Theo ghi chép của Đơn vị Quản lý Bệnh tật, kế hoạch phòng chống thông qua các đơn vị y tế địa phương ở mỗi tỉnh thành, quân đội và sự hợp tác của người dân, thực hiện các biện pháp phòng chống hóa học quy mô lớn trong nhà. Đây không phải là việc phun một diện tích rộng lớn ở ngoài đồng, mà là đưa nhân viên phòng chống dịch bệnh vào ngôi nhà, để lại hóa chất có tác dụng kéo dài trên bề mặt tường. 1

Phương pháp này hiệu quả vì nó kết nối thói quen sống của muỗi gây bệnh với cấu trúc nhà ở. Cơ sở nghiên cứu Chaozhou xác nhận muỗi gây sốt rét thấp còn là loài gây bệnh chính, và ưa cư trú bên trong nhà. Do đó, bên trong ngôi nhà trở thành điểm can thiệp phòng chống, và ngôi nhà của cư dân trở thành không gian mà chính sách y tế quốc gia có thể đo lường, xử lý và kiểm tra lại. 1 4

Ảnh cận cảnh muỗi gây sốt rét đang hút máu, cho thấy nghiên cứu bệnh truyền đang đối mặt với một sinh vật cụ thể và nhỏ bé

Hình: Ảnh cận cảnh muỗi Anopheles albimanus gây sốt rét. Hình ảnh được cung cấp bởi Thư viện Ảnh Y tế Công cộng của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ, theo quyền công cộng của nhà nước Hoa Kỳ, public domain. Trang tệp ảnh: 9

Nhưng hiệu quả không đồng nghĩa với thiếu hụt chi phí. DDT đại diện cho niềm tin của y tế công cộng thời bấy giờ vào các biện pháp phòng chống hóa học, đồng thời đưa cư dân vào một hành động tập thể cần phải hợp tác. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau chiến tranh, việc phòng chống sốt rét không chỉ dựa vào lệnh pháp luật, mà còn sử dụng truyền thông, giáo dục và giao tiếp mềm dẻo để tăng sự tham gia. Phía sau câu nói này là: chính phủ cần biết ai đang ở đâu, ngôi nhà nào đã được phun, và đâu còn trường hợp bệnh, để hình thành tỷ lệ phủ. 5

Vì vậy, việc tiêu trừ bệnh sốt rét là một dự án y tế công cộng, cũng là một dự án quản lý. Nó biến muỗi gây bệnh từ một loài côn trùng trong môi trường tự nhiên thành một đối tượng công cộng cần được phân loại, giám sát, ước tính và xử lý. Đối với con người thời bấy giờ, có thể chỉ là một lần phun thuốc. Nhưng đối với thể chế, đó là một lần thực hành kết nối không gian gia đình với mạng lưới thống kê và y tế quốc gia. 1 5

Năm 1965: Có hai cách ghi nhận ngày tiêu trừ

Danh sách công nhận tiêu trừ bệnh sốt rét của WHO đưa Đài Loan vào danh sách các khu vực được công nhận vào tháng 11 năm 1965. Triển lãm lịch sử của Đơn vị Quản lý Bệnh tật ghi nhận, Đài Loan vào ngày 4 tháng 12 năm 1965 đã nhận giấy chứng nhận tiêu trừ bệnh sốt rét từ WHO. Hai ngày này không phải là lỗi chọn một trong hai, mà là sự khác biệt giữa "tháng công nhận trong danh sách quốc tế" và "ngày cấp giấy chứng nhận". 1 10

Thành tích này thường được viết thành "Đài Loan trở thành khu vực đầu tiên trên thế giới đạt chứng nhận tiêu trừ bệnh sốt rét". Các bài viết của Bộ Ngoại giao và trường Đại học Thạch La (National Taiwan Normal University) đều sử dụng cách diễn đạt này, đặt nó trong bối cảnh sức khỏe cộng đồng, phát triển xã hội và kinh tế. Đối với Đài Loan sau chiến tranh, việc tiêu trừ bệnh sốt rét thực sự đại diện cho khả năng y tế công cộng đa bộ ngành đã được hình thành. 2 11 10

Nhưng "tiêu trừ" không đồng nghĩa với việc Đài Loan không còn muỗi, cũng không đồng nghĩa với việc tất cả các hoạt động liên quan đến sốt rét đều kết thúc. Dữ liệu Bộ Y tế và An sinh xã hội năm 2015 chỉ ra rằng, Đài Loan vẫn có thể tìm thấy muỗi gây sốt rét thấp, và số trường hợp nhập khẩu trung bình hàng năm khoảng 10 đến 30 trường hợp. Đơn vị Quản lý Bệnh tật vì vậy tiếp tục thực hiện khảo sát muỗi gây bệnh, xét nghiệm trường hợp nhập khẩu, theo dõi điều trị bệnh nhân và dự trữ thuốc chống sốt rét. 1 6

1965Hôm nay / Từ lây lan tại nơi đến giám sát nhập khẩu
Sau khi WHO công nhận, muỗi gây bệnh vẫn tồn tại, công tác phòng chống chuyển từ phòng chống quy mô lớn sang giám sát thấp tần số nhưng cảnh giác cao độ
Nguồn: Nguồn: WHO, Bộ Y tế và An sinh xã hội

📝 Ghi chú biên tập viên
"Tiêu trừ" dễ bị hiểu lầm thành một dấu chấm hết. Đối với y tế công cộng, nó giống hơn là một ngưỡng cửa: chỉ khi vượt qua được, xã hội mới có thể chuyển sức mạnh từ việc tiêu diệt hoàn toàn sang việc duy trì không tái phát.

Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Chaozhou cũng nằm trong bóng tối của Cuộc sốt trắng

Lịch sử của Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét không thể tách rời thành một câu chuyện khoa học sáng sớm hoàn toàn. Kho ký ức Nhân quyền Quốc gia ghi nhận, năm 1948, chi nhánh Chaozhou của viện sử dụng cung điện Chaozhou đã được sửa chữa sau chiến tranh làm không gian làm việc; năm 1952, khi trụ sở và chi nhánh Chaozhou hợp nhất, đây trở thành trụ sở chính của Kế hoạch Tiêu trừ Bệnh sốt rét Đài Loan. Năm 1969, trụ sở chuyển về Đài Bắc Namgang, và tòa nhà cũ sau này được phân bổ cho Trường Trung học Chaozhou sử dụng. 4

Trong cùng một tài liệu nhớ nhân quyền, cũng ghi nhận rằng, Yếp Sĩ̃ Chi (Yip Seng-kay) bị bắt giữ bởi quân giải mật vào ngày 29 tháng 5 năm 1950 tại chi nhánh Chaozhou, sau đó bị kết án và bắn chết vào tháng 11 cùng năm. Yếp Sĩ̃ Chi là bác sĩ tốt nghiệp trường Y học Đại học Đài Bắc, từng đến thăm chi nhánh Chaozhou để quan sát công tác phun DDT và thu thập mẫu muỗi gây sốt rét, và để lại ấn tượng tích cực về trang thiết bị nghiên cứu ở đây. 4

Sự chồng lấn này không có nghĩa là công tác phòng chống sốt rét đương đương với Cuộc sốt trắng, cũng không có nghĩa là một vụ án chính trị có thể phủ nhận công trình y tế công cộng. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, các cơ sở nghiên cứu chưa bao giờ tồn tại trong không gian chính trị trống rỗng. Chi nhánh Chaozhou có thể đồng thời là nơi những nhà nghiên cứu trẻ thấy thiết bị Mỹ, học khoa học về muỗi gây bệnh, cũng là nơi cơ quan an ninh quốc gia bắt giữ con người. Chỉ khi đặt hai ký ức này lên cùng một bản đồ, chúng ta mới tránh được việc viết "hiện đại hóa" thành một bức ảnh nội thất không có bóng tối. 4

📝 Ghi chú biên tập viên
Một cơ sở nghiên cứu có thể để người ta thấy muỗi dưới kính hiển vi, cũng có thể để người ta thấy sĩ quan ở cửa sau. Lịch sử y tế công cộng ở Đài Loan trở nên quan trọng không phải vì nó có thể được đưa vào câu chuyện tiến bộ hoàn toàn, mà vì nó phải được đọc cùng với quyền lực nhà nước thời đương đại.

Sau khi tiêu trừ, Đài Loan mang kinh nghiệm ra biển

Lịch sử bệnh sốt rét ở Đài Loan không dừng lại ở năm 1965. Liên Nhật Thanh sau đó gia nhập Viện Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ thứ hai, tiếp tục nghiên cứu côn trùng y học, đồng thời tham gia công tác phòng chống sốt rét ở Bolivia và Saint Helena. Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao và trường Đại học Thạch La, ông tham gia kế hoạch phòng chống sốt rét ở Saint Helena ở tuổi cao, biến kinh nghiệm tiêu trừ tại nơi thành một phần của ngoại giao y tế. 2 11

Các tài liệu chính thức sử dụng các con số khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh ở Saint Helena. Bài viết của Bộ Ngoại giao ghi nhận, tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 50% năm 2003 xuống còn 4% năm 2012, và 1.01% năm 2015. Công viên Khoa học và Công nghệ lại mô tả theo một cách thống kê khác nhau, cho biết tỷ lệ nhiễm giảm từ 40% xuống dưới 1%. Những con số này không thể được trộn lẫn thành một đường cong giảm chính xác, bài viết chỉ có thể nêu rõ quan điểm của từng nguồn. 3 11

Sự chênh lệch này thực sự có ý nghĩa. Việc phòng chống sốt rét không phải là một bộ máy có thể sao chép nguyên vẹn khi rời khỏi địa phương. Muỗi gây bệnh, kiến trúc nhà ở, lượng mưa, khả năng tiếp cận y tế, nguồn cung thuốc và năng lực hành chính đều khác nhau. Đài Loan xuất khẩu không chỉ là một phương pháp phun thuốc, mà còn là nghiên cứu, đào tạo, giám sát và cách dịch thuật kỹ thuật thành công việc địa phương. 1 3 11

Trách nhiệm của một con muỗi: Sau khi tiêu trừ vẫn cần giám sát

Nơi đáng được đọc lại nhất về việc tiêu trừ bệnh sốt rét ở Đài Loan là nơi đây đồng thời chứa đựng ba quy mô. Loại thứ nhất là quy mô cá nhân: Liên Nhật Thanh đang nhận dạng ấu trùng dưới kính hiển vi. Loại thứ hai là quy mô thể chế: Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Chaozhou, các đơn vị y tế địa phương và nhân viên phòng chống dịch bệnh đi qua từng ngôi nhà. Loại thứ ba là quy mô quốc tế: chứng nhận của WHO, viện trợ nước ngoài và ngoại giao y tế. Bất kỳ một quy mô nào tách rời ra cũng không đủ để giải thích kết quả năm 1965. 1 2 4 5

Nó cũng đồng thời để lại ba dải thời gian. Cơ sở phòng chống bệnh sốt rét thời kỳ thuộc địa Nhật cung cấp tiền sử hành chính và y tế; sau chiến tranh, sự hỗ trợ từ Mỹ và trung tâm nghiên cứu mang kiến thức, thuốc và thiết bị vào; sau khi tiêu trừ, hệ thống quản lý bệnh tật đưa "không có trường hợp bệnh tại nơi" thành một trạng thái cần duy trì. Đây không phải là một hành trình thẳng từ lạc hậu đến tiên tiến, mà là một quá trình liên tục cấu trúc lại, kết nối và bổ sung. 6 4 5

Hôm nay, khi nói đến bệnh sốt rét, dễ chỉ còn lại một câu: "Đài Loan đã tiêu trừ". Nhưng nếu câu nói này không kèm theo Trung tâm Nghiên cứu Chaozhou năm 1946, các hoạt động lấy mẫu ngoài thực địa của Liên Nhật Thanh, lớp DDT trên tường nhà dân, hai ngày năm 1965, và muỗi gây sốt rét thấp còn tồn tại sau khi tiêu trừ, thì một dự án y tế công cộng sẽ bị thu hẹp thành một huy hiệu. 1 3 6 10

Đài Loan từng xây dựng một hệ thống đủ mạnh để đẩy bệnh xuống một góc khuất nơi nhìn thấy, đồng thời có khả năng nhận biết lại nó khi nó quay lại. Hệ thống này gần với "sự biến mất của muỗi" hơn là ý nghĩa thực sự của việc tiêu trừ. Nó mang dấu vết của sự hỗ trợ nước ngoài, bàn tay của nhà nghiên cứu địa phương, sức mạnh quản lý nhà nước, cũng như sự can thiệp vào cơ thể và không gian trong thời kỳ uy quyền. Điều cần được bảo tồn không phải là hai từ " phép màu", mà là cách hệ thống này hình thành, và tại sao nó vẫn cần được kiểm tra. 11 6 4

📝 Ghi chú biên tập viên
Vật cuối cùng mà việc tiêu trừ bệnh sốt rét để lại, không phải là giấy chứng nhận, mà là một ống lấy mẫu muỗi chưa được gập lại. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, chiến thắng tin vịnh bền nhất của y tế công cộng, chưa bao giờ là tuyên bố mọi việc kết thúc mãi mãi, mà là biết ngày mai cần kiểm tra ở đâu.

Tài liệu tham khảo

Đọc thêm

Nếu bạn muốn tiếp tục đọc về lịch sử này, có thể theo ba hướng. Hướng thứ nhất là cơ sở Chaozhou và khoa học côn trùng y học ở Đài Loan, theo dõi cách trung tâm chuyển đổi từ các tổ chức viện trợ nước ngoài thành đơn vị phòng chống dịch bệnh của chính quyền tỉnh Đài Loan. Hướng thứ hai là quản lý nhà nước, so sánh phun DDT trong ngôi nhà, giám sát trường hợp và quản lý cơ thể trong thời kỳ Cuộc sốt trắng. Hướng thứ ba là y tế quốc tế, từ chứng nhận của WHO đến kế hoạch phòng chống sốt rét ở Saint Helena, quan sát cách một hòn đảo biến kinh nghiệm địa phương thành hợp tác quốc tế.

  1. Bộ Y tế và An sinh xã hội, 〈【Khu trưng bày tầng 3 - 1】 Nhìn lại hình ảnh tiêu trừ bệnh sốt rét ở Đài Loan và những hi Vật liệu quý giá từng thời〉,https://www.cdc.gov.tw/Category/Page/O9l2HgL0at_mk17ww7PVzA23456789101112
  2. Đại học Quốc gia Đài Loan (National Taiwan Normal University),〈Tưởng Giới Thạch (Liên Nhật Thanh) – nhà tiên phong chống sốt rét ở Đài Loan – qua đời, sinh viên và giảng viên trân trọng công trình và biểu cảm sự mất lỡ〉,https://pr.ntnu.edu.tw/ntnunews/index.php?mode=data&id=2062223456
  3. Công viên Khoa học và Công nghệ,Trần Khôn Hiên (Cai Kunxian),〈Tiến sĩ muỗi – Liên Nhật Thanh (Liên Nhật Thanh)〉,https://scitechvista.nat.gov.tw/Article/C000003/detail?ID=cb8cec5a-00d7-4f77-82c0-126474650c832345678
  4. Kho ký ức Nhân quyền Quốc gia – Kho ký ức Nhân quyền Quốc gia,〈Viện Nghiên cứu Bệnh sốt rét Tỉnh Đài Loan – Chi nhánh Chaozhou〉,https://memory.nhrm.gov.tw/NormalNode/Detail/188?MenuNode=252345678910111213141516
  5. Trần Tử Nhiên (Cai, Tzu-yi),〈Nghiên cứu về phòng chống bệnh sốt rét ở Đài Loan sau chiến tranh (1945-1965)〉,Thư viện Trực tuyến Đức Lân (Dacilen) ,https://www.airitilibrary.com/Article/Detail/U0031-0207200917350535234567
  6. Bộ Y tế và An sinh xã hội,〈Đài Loan kỷ niệm 50 năm tiêu trừ bệnh sốt rét, chiến binh phòng chống được tặng bằng công nhận, từ phun hóa chất sang phòng chống sinh thái học〉,https://mohw.gov.tw/fp-16-19702-1.html2345
  7. Tạp chí Đối thoại Cựu sinh viên Đại học Đài Bắc,Trần Khôn Hiên (Cai Kunxian),〈Tiến sĩ muỗi – Liên Nhật Thanh (Liên Nhật Thanh)〉,https://ntualumnibm.ntu.edu.tw/bm.bimonthly.article/detail/sn/93922
  8. Wikimedia Commons,〈File:DDT spray 1958.jpg〉,Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ,public domain,https://commons.wikimedia.org/wiki/File:DDT_spray_1958.jpg
  9. Wikimedia Commons,〈File:Anopheles albimanus mosquito.jpg〉,Thư viện Ảnh Y tế Công cộng của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ,public domain,https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Anopheles_albimanus_mosquito.jpg
  10. Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization),“Các quốc gia và lãnh thổ được WHO công nhận đã tiêu trừ bệnh sốt rét”,https://www.who.int/teams/global-malaria-programme/elimination/countries-and-territories-certified-malaria-free-by-who23
  11. Bộ Ngoại giao,〈Bộ Ngoại giao bày tỏ sự bi lụy sâu sắc và tưởng nhớ về tiến sĩ Liên Nhật Thanh (Liên Nhật Thanh) – cha ông của cuộc chiến chống sốt rét ở Đài Loan〉,https://www.mofa.gov.tw/News_Content.aspx?n=95&sms=73&s=973852345
Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
bệnh sốt rét y tế công cộng Liên Nhật Thanh viện trợ Mỹ Đài Loan sau chiến tranh
Chia sẻ

Đọc thêm

Có thể bạn cũng muốn đọc

Địa lý Đang hoàn thiện · cộng đồng

Viện Phục hồi Lạc Sinh: Một Ngôi Nhà Bị Cô Lập, Và Làm Thế Nào Nó Trở Thành Hiện Trường Nhân Quyền Y Tế Của Đài Loan

Viện Phục hồi Lạc Sinh được thành lập năm 1930, từng là bệnh viện công lập duy nhất của Đài Loan chuyên cách ly bệnh nhân bệnh Hansen. Từ cách ly bắt buộc, cuộc sống tự lập của bệnh nhân viện, đến phong trào bảo tồn được khởi động bởi kế hoạch xây dựng nhà ga tàu điện ngầm, khu lưu trú này trên sườn núi đã chứng kiến cách các chính sách y tế công cộng, sự kỳ thị bệnh tật, quyền ở cư và tài sản văn hóa gây tác động lẫn nhau. Bài viết này làm rõ chính sách y tế từ thời kỳ Nhật trị đến hậu chiến, cách bệnh nhân viện biến không gian cách ly thành cuộc sống, và lý do tại sao phong trào bảo tồn không chỉ là tranh luận về việc có nên phá dỡ những tòa nhà cũ hay không.

閱讀全文
Nhân vật Bài viết chính thức

Tưởng Giới Thạch: Bác sĩ chẩn đoán bệnh lý di cư bằng bài giảng lâm sàng

Năm 1921, bác sĩ Tưởng Giới Thạch công bố bài giảng lâm sàng "Bài giảng lâm sàng", chẩn đoán Đài Loan là "người bệnh trì hoãn văn hóa thế giới", nguyên nhân do dinh dưỡng trí tuệ thiếu thốn. Ông thành lập Hội Văn hóa Đài Loan và Đảng Dân sinh Đài Loan, đảng chính thức đầu tiên, cả đời bị giam giữ hơn 10 lần, xây dựng mạng lưới tỉnh nhận tại Bệnh viện Đông An và tòa nhà Spring Breeze, để lại di sản thực hành "Anh em cần đoàn kết, đoàn kết mới có sức mạnh."

閱讀全文
Xã hội Bài viết chính thức

Dịch bệnh chuột ở Đài Bắc: Từ sắc lệnh chống dịch chuột năm 1896 của Tổng đốc, đến virus Hantavirus ở quận An Tư năm 2026

Tháng 1 năm 2026, một ông lão 70 tuổi ở quận An Tư tử vong vì virus Hantavirus, là ca tử vong đầu tiên trong 25 năm qua. Nhưng điểm ngoặt của câu chuyện lại là sắc lệnh "gia hộ cấm chế độ nuôi lợn từ rác thải nhà bếp" cùng tháng — khi lợn không còn ăn rác thải, những con chuột bắt đầu ăn Đài Bắc.

閱讀全文
Lịch sử Đang hoàn thiện · cộng đồng

Khu xử lý xuất khẩu cao điểm: 72 hecta đất thử nghiệm công nghiệp gửi Đài Loan vào thế giới

Khu xử lý xuất khẩu cao điểm, thành lập năm 1966, nén khấu trừ thuế, cửa sổ đơn và đơn đặt hàng xuất khẩu vào một khu công nghiệp, nơi mà công nhân nữ, vốn đầu tư nưới ngoài và công nghệ cùng viết nên khởi đầu của toàn cầu hóa Đài Loan.

閱讀全文