Tóm tắt 30 giây: Rô-bô-tơ Sử Uân Hầu (Robert Swinhoe, 1836-1877) là lãnh sự Anh Quốc đầu tiên được cử tới Formosa. Anh ở lại Đài Loan khoảng bốn năm, công bố 52 bài báo học thuật về hòn đảo này, ghi chép 227 loài chim, 40 loài động vật có vú, 246 loài thực vật. Nhà chim học P. L. Sclater sống cùng thời đại với anh đã gọi anh là «một trong những nhà thám hiểm bác học thành công nhất trong lịch sử». Anh qua đời ở tuổi 41 vì bệnh tật, nhưng những loài vật anh đặt tên — từ chim trĩ xanh bụng mà hình ảnh nó nằm trên mặt tờ tiền ngàn đồng cho tới con rùa Trung Quốc cực kỳ hiếm trên trái đất — vẫn còn sống trên hòn đảo này (và trong danh pháp khoa học) cho tới hôm nay.
Mười chín tuổi, bờ biển Hương Sơn
Năm 1856 tháng 3, một thanh niên 19 tuổi người Anh là thông dịch viên ngoại giao đã tới được bờ biển Hương Sơn gần Tân Trúc trên một chiếc thuyền thương gia Trung Quốc1. Anh ở lại hòn đảo chỉ có hai tuần. Không ai bảo anh làm bất cứ việc gì liên quan tới lịch sử tự nhiên. Chức vụ của anh là thông dịch viên ngoại giao tại Hoa Kỳ của Anh Quốc, anh đã vượt qua kỳ thi công chức ngoại giao lúc 18 tuổi, học tiếng Trung Quốc ở Bắc Kinh, được phân công tới Hồ Môn. Công việc của anh là dịch các văn bản chính phủ.
Nhưng điều đầu tiên anh làm ở Hương Sơn là ghi chép lại những loài chim anh nhìn thấy.
Bản ghi chép quan sát đó sau đó được công bố trên tờ báo «Đường bưu chính nước Trung» tại Hồng Kông, năm sau được dịch sang tiếng Đức và đăng trên tạp chí địa lý của Bá Linh2. Không ai chú ý tới. Với Sử Uân Hầu, đó là khởi đầu.
Sau đó anh trở lại Hồ Môn để tiếp tục công việc thông dịch viên, nhưng tâm trí anh đã bị lại trên hòn đảo kia. Hai năm sau, Hiệp ước Thiên Tân mở cửa các cảng của Đài Loan, anh có được cơ hội quay trở lại.
Một nhà ngoại giao chênh lệch múi giờ
Năm 1858, Hiệp ước Thiên Tân được ký kết, các cảng Đạm Thủy, An Bình, Cơ Long, Đả Câu của Đài Loan lần lượt được mở cửa cho thương mại ngoài quốc3. Anh Quốc cần một người tới Formosa để lập một văn phòng lãnh sự. Tháng 12 năm 1860, Sử Uân Hầu 24 tuổi được bổ nhiệm làm phó lãnh sự Anh Quốc đầu tiên tại Formosa.
Anh đến Đài Loan vào tháng 7 năm 1861 (nay là Đài Nam), mang theo trợ lý George Braune mở văn phòng lãnh sự Anh Quốc4. Công việc chính của anh là xử lý các tranh chấp thương mại của những nhà thương gia Anh, tuồn lậu camphor, xung đột giữa những nhà truyền giáo và chính quyền địa phương. Năm 1865 anh được nâng cấp lên làm lãnh sự.
Nhưng nếu bạn đọc lại các thư từ và bài báo của anh, bạn sẽ phát hiện ra một điều: các báo cáo ngoại giao của anh chứa những quan sát bác học, những lá thư anh viết tới Hội chim học Anh Quốc toàn là những cuộc thảo luận về phân loại loài vật chứ không phải về điều ước thương mại5. Ngày 17 tháng 1 năm 1862, từ Đạm Thủy anh viết một lá thư cho tạp chí «Ibis», hôm đó anh vừa nhìn thấy một loài chim mới. Cùng thời kỳ, người chỉ huy của anh lại mong muốn những báo cáo về thuế cảng.
📝 Ghi chú của người sưu tầm
Sử Uân Hầu sống trong hai múi giờ. Vào ban ngày, anh là quân cờ ngoại giao của Đế chế Anh Kỳ ở Viễn Đông, chịu trách nhiệm bảo vệ lợi ích của đế chế. Vào buổi tối và cuối tuần, anh thuộc về một thế giới khác — sưu tầm những mẫu vật, viết thư cho các nhà phân loại học ở London, biến mỗi chuyến công tác thành một cuộc điều tra thực địa. Anh dùng lương bổng của chính phủ để làm khoa học, nhưng khoa học tồn tại lâu hơn đế chế.
Anh không phải một mình thám hiểm trên đảo. Vợ anh là Christina Stronach (克莉絲蒂娜·斯特朗納克), là con gái của một nhà truyền giáo từ Phúc Châu, họ kết hôn năm 1862 và sống cùng nhau ở Đả Câu — không phải sống trong một ngôi nhà, mà sống trên một chiếc tàu bảo vệ cũ của Hà Lan tên là Ternate, chiếc tàu đó được chiếm dụng làm tàu nhận opium6. Ít nhất một đứa con của họ được sinh ra ở Đả Câu. Sau này Sử Uân Hầu đã đặt tên một loài chim theo tên vợ: chim mặt trời đuôi chẻ (Aethopyga christinae)7.
Bốn năm, năm mươi hai bài báo
Từ năm 1861 tới năm 1866, tổng cộng thời gian Sử Uân Hầu ở lại Đài Loan là khoảng bốn năm (trong đó có nhiều lần quay lại Hồ Môn và London). Anh chủ yếu ở tại Đả Câu, Đạm Thủy và Đài Nam. Trong bốn năm đó, anh đã làm điều mà chưa có ai làm trong lịch sử tự nhiên của Đài Loan: thu thập có hệ thống, xác định danh pháp, công bố kết quả.
Anh leo núi Quan Âm, đi bộ trên những cánh đồng từ Đả Câu đến Đài Nam, dọc theo bờ biển phía tây mua những vỏ ốc mà những người nông dân nhặt được. Anh thuê những thợ săn địa phương bắt chim cho anh, đóng gói từng lô mẫu vật gửi về London, giao cho chuyên gia chim học John Gould xác định danh pháp8.
| Nhóm loài | Số lượng ghi chép |
|---|---|
| Chim | 227 loài |
| Động vật có vú | Khoảng 40 loài |
| Thực vật (gồm dương xỉ) | 246 loài |
| Ốc trên cạn và trai nước ngọt | 200+ loài |
| Côn trùng | 400+ loài |
Hiện tại Đài Loan đã xác định được khoảng 686 loài chim, Sử Uân Hầu một mình đã ghi chép được ba phần một9. Theo tiêu chuẩn ngày nay, một nhà bác học khoa học không chuyên dụng hoàn thành một cuộc khảo sát trong bốn năm, mức độ công việc tương đương với thành quả thực địa của cả một đội ngũ học thuật trong nhiều chục năm.
Năm 1863, anh công bố bài «Chim học của Formosa, hay Taiwan» (The Ornithology of Formosa, or Taiwan) trong ba kỳ trên tạp chí «The Ibis», ghi chép 186 loài chim10. Cùng năm đó, anh còn công bố một danh sách các loài bò sát của Đài Loan, một bài báo về nhân chủng học, đây là một trong những tài liệu sớm nhất của phương Tây sử dụng khung nhân chủng học để ghi chép những người bản địa của Đài Loan.
Phó trưởng phòng nghiên cứu tại Bảo tàng Đài Loan Lâm Tuấn Thông chỉ ra: «Sử Uân Hầu không chỉ sưu tầm những mẫu vật, mà còn sử dụng có hệ thống phương pháp danh pháp hai tên để xác định danh pháp của các loài vật, để lại một dấu ấn khổng lồ trên sinh học Đài Loan.»11
✦ «Trước Sử Uân Hầu, thế giới phương Tây gần như không biết gì về các loài sinh vật của Formosa. Sau anh, hòn đảo này được ghi vào bản đồ lịch sử tự nhiên toàn cầu.»
Tên tuổi còn lại trong các loài vật
Bốn loài động vật có vú và mười lăm loài chim được đặt tên theo tên của anh12. Ba loài vật nổi tiếng nhất có số phận hoàn toàn khác nhau.
Chim trĩ xanh bụng (Lophura swinhoii) là một trong 16 loài chim mới của Đài Loan mà Gould công bố trong một lần năm 1862, loài trĩ xanh này sau đó trở thành một trong những loài đặc hữu Đài Loan (loài chỉ sống ở Đài Loan) nổi bật nhất13. IUCN từng xếp nó vào danh sách những loài có nguy cơ tuyệt chủng, số lượng trong tự nhiên từng chỉ còn dưới 200 cá thể. Sau khi thiết lập khu bảo tồn, quần thể tăng lên thành 3.300-6.700 cá thể trưởng thành, hiện được xếp vào mức độ nguy hiểm thấp14. Chim Khoang Xanh Đài Loan (Urocissa caerulea) được thu thập từ cùng một lô mẫu vật năm 1862, năm 2007 cuộc bình chọn chim quốc gia đã nhận được 520.000 phiếu và vô địch.
Rùa Trung Quốc (Rafetus swinhoei) đi theo một con đường khác. Năm 1873 được đặt tên bởi Grey nhưng lấy mẫu vật từ Sử Uân Hầu, hiện tại nó là loài rùa, tê tà nguy hiểm nhất trên trái đất, số lượng cá thể còn sống duy nhất chỉ có hai con: một con tại vườn thú Tô Châu, một con tại Việt Nam15. Các nhà khoa học đang sử dụng công nghệ eDNA để tìm kiếm những cá thể chưa được khám phá ở các hồ nước của Việt Nam. Nếu không tìm được, Rafetus swinhoei sẽ trở thành loài thứ nhất được đặt tên theo Sử Uân Hầu sẽ tuyệt chủng.
📝 Ghi chú của người sưu tầm
Việc đặt tên một loài vật theo tên của một người là cách tôn vinh lâu nhất của thế giới khoa học: không cần tượng đồng, không cần bia tưởng niệm, tên loài được khắc trong hệ thống phân loại học, miễn là loài vật còn sống (hoặc miễn là vẫn còn người nghiên cứu về nó), tên tuổi sẽ không biến mất. Nhưng ví dụ về rùa Trung Quốc nhắc nhở chúng ta: việc đặt tên cũng có thể trở thành một cách ghi lại nỗi đau buồn.
Phụ sản phẩm của ngoại giao
Sử Uân Hầu để lại cho Đài Loan không chỉ là những mẫu vật. Năm 1862, anh viết một báo cáo «Báo cáo về thương mại Formosa trước năm 1862», đánh giá tiềm năng xuất khẩu trà của Đài Loan16. Báo cáo này gián tiếp thu hút nhà thương gia Scotland John Dodd tới Đài Loan. Dodd đã mang theo những cây trà từ An Tây, năm 1869 lần đầu tiên vận chuyển trực tiếp 2.131 đấu trà Ô Long của Đài Loan tới New York, được dán nhãn là «Choicest Formosa Oolong Tea» — khởi đầu của xuất khẩu trà của Đài Loan, bắt nguồn từ một báo cáo thương mại của một nhà bác học tự nhiên.
Năm 1864, anh đã công bố hai bài viết ngắn trên tạp chí «Scientific American»: một bài nói về camphor của Đài Loan, một bài nói về cây cây thông-tềm(通脫木)của Đài Loan dùng để sản xuất giấy quanh17. Camphor sau đó gây nên một cuộc tranh chấp thương mại quốc tế năm 1868: một công ty nước ngoài tên Eagriculture bị phát hiện buôn lậu camphor và bị chính quyền Thanh Đạo tịch thu, Sử Uân Hầu tạm thời quay lại Đài Loan để xử lý tình hình, hai bên ký kết một chương trình về camphor kết thúc tình trạng độc quyền.
Anh thậm chí không vô tình để lại một «đường cơ sở sinh thái». 160 năm sau ngày hôm nay, các nhà sinh thái học sử dụng những ghi chép về loài vật của anh từ xưa để đo lường Đài Loan đã mất đi bao nhiêu. Một số môi trường sống mà anh từng mô tả đã biến mất, một số bộ tộc nguyên thủy mà anh đã nhắc tới không còn tồn tại nữa.
Bốn mươi mốt tuổi
Vào khoảng năm 1871, Sử Uân Hầu bắt đầu xuất hiện những triệu chứng liệt nửa thân. Sau lần đột quỵ thứ ba năm 1873, anh bị buộc phải rời bỏ Trung Quốc và trở về Anh Quốc18. Năm 1875 anh về hưu. Năm 1876, anh được bầu chọn làm thành viên của Hội Hoàng Gia Anh Quốc (FRS), đây là một trong những vinh dự cao nhất trong thế giới khoa học Anh Quốc.
Nhưng cơ thể anh không chịu được. Ngày 28 tháng 10 năm 1877, Sử Uân Hầu qua đời ở London, chỉ mới 41 tuổi. Từ lúc anh 19 tuổi bước chân lên bờ biển Hương Sơn cho tới khi anh 41 tuổi thở hơi cuối cùng, chỉ có 22 năm, và bốn năm đặc sắc nhất của những 22 năm đó anh dành cho Formosa.
3.700 mẫu vật của anh được người sưu tập Henry Sclowm mua lại, sau đó tặng cho Bảo tàng Liverpool (ngày nay gọi là Bảo tàng Thế giới), cho tới bây giờ vẫn là nền tảng của bộ sưu tập chim chứng của Anh Quốc lớn thứ hai19. Năm 1903, nhà ngoại giao Mỹ được cử tới Đài Loan là James Wheeler Davidson viết trong cuốn sách «The Island of Formosa» rằng: «Không có bất kỳ người nước ngoài nào khác giống ông ấy vậy, người đã ghi tên của mình một cách chắc chắn lên Formosa.»20
Một trăm bốn mươi bảy năm sau
Năm 2013, Sở Văn hoá Thành phố Cao Hùng tu sửa Lãnh sự quán Anh Quốc và Dinh thự của tham tán tại Đả Câu, bên trong bảo tàng đã lắp đặt một tượng sáp của Sử Uân Hầu, cảnh tượng tái hiện cảnh anh làm việc với các mẫu vật khỉ Đài Loan. Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Quốc lập đã tổ chức triển lãm đặc biệt «Theo tên của Sử Uân Hầu» năm 201921.
Ngày 17 tháng 1 năm 2019, Christopher Swinhoe-Standen (크리스도퍼 史溫侯-스탠던), hậu duệ qua năm thế hệ bên ngoài của Sử Uân Hầu, từ Anh Quốc bay tới Cao Hùng. Anh ấy đứng bên cạnh tượng sáp tại Lãnh sự quán Anh Quốc của Đả Câu để chụp ảnh. «Tôi sẽ mang ảnh này về nhà cho mẹ 91 tuổi của tôi xem,» anh ấy nói, «Tôi chắc chắn rằng câu chuyện này sẽ được kể lại trong gia đình tôi trong một thời gian rất dài.»22
Anh ấy đã lên du thuyền «Chuyến khám phá của Sử Uân Hầu», cùng đi lại quãng đường Cao Hùng của tuyến hành trình vòng quanh đảo mà Sử Uân Hầu đã thực hiện năm 1858. 147 năm trước, tổ tiên của anh ấy đã lên tàu chiến Anh Quốc HMS Inflexible và đi vòng quanh hòn đảo này lần đầu tiên. Bây giờ anh ấy ngồi trên một chiếc du thuyền du lịch, nhìn cùng một vùng biển.
Vào những tuần cuối cùng của cuộc đời anh, Sử Uân Hầu vẫn còn đang viết bài báo. Bài cuối cùng mô tả loài chim họa mỹ vàng ngực (Liocichla steerii) — một loài chim họa mỹ nhỏ sống ở vùng rừng sương mù ở độ cao trung bình và cao của Đài Loan. Anh viết xong phần mô tả loài vật, vài tuần sau anh thở hơi cuối cùng.
Loài chim đó vẫn còn hát trong những khu rừng của Đài Loan cho tới hôm nay. Nó không biết tên khoa học của nó, cũng không biết người đã đặt tên cho nó, là người đó vừa mất bốn năm để đọc xong toàn bộ một hòn đảo.
Khuyên đọc thêm:
- Chim học của Formosa — Giải đáp sâu sắc về The Ornithology of Formosa năm 1863 của Sử Uân Hầu: 201 tên khoa học, 30 thợ săn, và những khu vực dãy núi Trung ương mà anh không bước chân vào
- Thời kỳ Thanh Đạo — Bối cảnh thời đại khi Sử Uân Hầu tới Đài Loan: khai thác thương mại, tranh chấp camphor, Formosa giữa kẽ hở của đế chế
- Loài đặc hữu Đài Loan — Nhiều loài vật mà Sử Uân Hầu đã ghi chép, sau đó được xác nhận là loài đặc hữu của Đài Loan
- Chim Khoang Xanh Đài Loan — Sử Uân Hầu thu thập mẫu vật năm 1862, chiến thắng bình chọn chim quốc gia năm 2007
- Lý Tiên Đắc — Một nhà ngoại giao nước ngoài khác của Formosa cùng thời kỳ, nhưng động cơ hoàn toàn khác nhau
- Cuộc chiến tranh camphor thế kỷ 19 — Formosa Camphor năm 1864 của Sử Uân Hầu là tiền sử của cuộc tranh chấp này: chênh lệch giá 6/16/28 đồng, tặng quà để nhận được giấy phép khai thác, đảo Đạm Thủy sản xuất 6.000 đấu mỗi năm
Tài liệu tham khảo
- Takao Club: Robert Swinhoe — Trang web tiểu sử về Sử Uân Hầu hoàn chỉnh nhất trong thế giới tiếng Anh, được duy trì bởi cộng đồng người nước ngoài tại Cao Hùng, bao gồm toàn bộ biểu đồ thời gian về các hoạt động ngoại giao và khoa học của anh khi ở Đài Loan.↩
- Swinhoe, "A Trip to Hongsan," Supplement to the Overland China Mail, No. 130 (1856) — Bài ghi chép quan sát đầu tiên của Sử Uân Hầu về Đài Loan, được dịch sang tiếng Đức và công bố trên tạp chí địa lý của Bá Linh năm sau. Có thể tìm thấy bản gốc trên Thư viện Di sản Đa dạng sinh học (Biodiversity Heritage Library).↩
- Thiệp ước Thiên Tân, Wikipedia — Thiệp ước Thiên Tân được ký kết năm 1858, sau khi Thiệp ước Bắc Kinh được phê duyệt năm 1860, bốn cảng Đạm Thủy, An Bình, Cơ Long, Đả Câu của Đài Loan chính thức được mở cửa cho thương mại ngoài quốc.↩
- Taiwan Panorama: The Taiwan Journey of a British Diplomat (2023) — Chuyên đề báo cáo tháng 6 năm 2023 của tạp chí Ánh sáng Đài Loan, chứa lời nhận xét của các chuyên gia Lâm Tuấn Thông, Lâm Ruì Hứng và toàn bộ biểu đồ thời gian hoàn chỉnh của Sử Uân Hầu khi ở Đài Loan.↩
- Swinhoe, "Letter," The Ibis 4 (1862): 304-307 — Lá thư từ Đạm Thủy ngày 17 tháng 1 năm 1862 gửi cho Hội chim học Anh Quốc. BHL lưu trữ tài liệu số hóa gốc.↩
- Jerome Vlieland Blog: Robert Swinhoe (2015) — Nhà nghiên cứu lịch sử gia đình đã sắp xếp những chi tiết về gia đình Sử Uân Hầu: vợ Christina, con cái, cuộc sống trên tàu Ternate ở Đả Câu.↩
- BirdForum: Aethopyga christinae Swinhoe, 1869 — Chim mặt trời đuôi chẻ được đặt tên theo tên vợ Christina của Sử Uân Hầu, công bố năm 1869.↩
- Gould, "Description of Sixteen New Species of Birds from Formosa," PZS London (1862) — Bài báo khoa học gốc của Gould công bố 16 loài chim mới của Đài Loan dựa trên mẫu vật của Sử Uân Hầu một lần.↩
- Kế hoạch điều tra khoa học quốc gia kỹ thuật số: Tiên phong nghiên cứu lịch sử tự nhiên của Đài Loan — Tư Văn Hào — Triển lãm kỹ thuật số được quản lý bởi Viện Nghiên cứu Trung ương, chứa thống kê ghi chép loài vật của Sử Uân Hầu và bản đồ tuyến đường thu thập mẫu vật.↩
- Swinhoe, "The Ornithology of Formosa, or Taiwan," The Ibis 5:18-20 (1863) — Bài báo chim học quan trọng nhất của Sử Uân Hầu, được công bố trong ba kỳ trên The Ibis, ghi chép 186 loài chim của Đài Loan. Nguồn học thuật gốc.↩
- Cùng ^4, Taiwan Panorama (2023) — Lời nhận xét được trích từ cuộc phỏng vấn Phó trưởng phòng nghiên cứu Bảo tàng Đài Loan Lâm Tuấn Thông.↩
- Robert Swinhoe, Wikipedia — «Bốn loài động vật có vú và mười lăm loài chim được đặt tên theo tên Swinhoe.» Chứa danh sách hoàn chỉnh các loài vật được đặt tên là swinhoii/swinhoei.↩
- Cùng ^8, Gould (1862) — Chim trĩ xanh bụng Lophura swinhoii là một trong những 16 loài mới của lô này.↩
- BirdLife International: Swinhoe's Pheasant Species Factsheet — Sách đỏ IUCN xếp ở mức độ nguy hiểm thấp, ước tính có 3.300-6.700 cá thể trưởng thành. Chứa phân tích xu hướng quần thể và môi trường sống.↩
- Discover Wildlife: Time Is Ticking for World's Rarest Turtle (2025) — Tình hình hiện tại của rùa Trung Quốc: chỉ còn 2 cá thể sống, các nhà khoa học đang phát triển công cụ eDNA để tìm kiếm những cá thể chưa biết đến.↩
- Cùng ^4, Taiwan Panorama (2023) — Báo cáo thương mại năm 1862 của Sử Uân Hầu gián tiếp thu hút John Dodd, thúc đẩy lần đầu tiên trà Ô Long của Đài Loan được vận chuyển trực tiếp tới New York.↩
- Swinhoe, "Formosa Camphor," Scientific American (6 Feb 1864): 85; "The Rice-Paper of Formosa," Scientific American (24 Sep 1864): 194 — Hai bài viết ngắn được công bố trên Scientific American, lần lượt giới thiệu camphor của Đài Loan và cây thông-tềm(通脫木)(nguyên liệu giấy quanh).↩
- Taipei Times: The Diplomat with a Scientific Soul (2019/1/27) — Chứa lời nhận xét của Davidson, thảo luận về nguyên nhân cái chết, và câu chuyện của những hậu duệ.↩
- Pensoft/NHCM: Ghosts and Entanglements in Liverpool's Collection (2024) — Bài báo học thuật năm 2024 phân tích di sản phân loại học của những mẫu vật Sử Uân Hầu trong bộ sưu tập Bảo tàng Thế giới của Liverpool.↩
- Cùng ^18, Taipei Times (2019/1/27) — Davidson, The Island of Formosa, Past and Present (1903) trích dẫn: "No other foreigner has succeeded in associating his name so firmly with Formosa."↩
- Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Quốc lập: Triển lãm đặc biệt theo tên Sử Uân Hầu — Triển lãm năm 2019, do Trần Huệ Nương sắp xếp, trưng bày tuyến đường thu thập mẫu vật của Sử Uân Hầu và lịch sử đặt tên loài vật.↩
- Tự do thời báo: Hậu duệ của lãnh sự Anh Quốc đầu tiên của Đài Loan Sử Uân Hầu băng qua đại dương để tìm gốc (2019/1/18) — Christopher Swinhoe-Standen tìm thăm Lãnh sự quán Anh Quốc Đả Câu ngày 17 tháng 1 năm 2019 và chụp ảnh với tượng sáp của tổ tiên. Cũng có báo cáo từ Thông tấn xã Trung ương (CNA) và China Times.↩