Đài Loan và Bảo tồn Rạn san hô

Bốn bề khơ của Đài Loan đang chờ đón sinh học đa dạng, từ khủng hoảng trắng san hô đến việc bảo tồn cá voi, khám phá hiệu quả và thách thức của khu dự trữ sinh quyển hải dương

Đài Loan nằm ở Tây Phi, diện tích hải phòng đạt 170.000 km², gấp 4,7 lần diện tích đất liền. Nguồn nhiệt đới và dòng chảy bờ đất Trung Quốc tại đây giao nhau, tạo ra hệ sinh thái hải dương đa dạng. Từ rạn san hô nhiệt đới đến rạn đá nhiệt đới, hải phòng của Đài Loan nuôi dưỡng hơn 3.000 loài cá, 1.000 loài sinh vật mềm, 32 loài cá voi, với đa dạng sinh học xếp hạng hàng đầu thế giới.

Đặc điểm sinh học hải dương của Đài Loan

Vị trí địa lý độc đáo

Các kênh đảo Đài Loan có độ sâu trung bình 60 mét, sâu nhất 184 mét, là biển nông cạn lục địa tiêu biểu. Phía đông là biển sâu Tây Phi, đường sâu 3.000 mét gần với bờ. Địa hình "một bên nông cạn, một bên sâu" tạo nên tính chất độc đáo của sinh học hải dương Đài Loan.

Những dòng chảy nóng (Black Current) là mạng sống của sinh học hải dương Đài Loan. Dòng chảy nóng đến từ biển Philippines mang theo sinh vật nhiệt đới, cung cấp dinh dưỡng phong phí. Dòng chảy nóng tại Đông Bắc của Đài Loan có tốc độ đạt 1-1,5 mét/giây, là một trong những dòng chảy mạnh nhất thế giới. Mỗi năm vào mùa xuân hè, các phân nhánh của dòng chảy nóng chảy vào các kênh đảo, hình thành "các phân nhánh của dòng chảy nóng".

Các hệ sinh thái hải dương

Hải phòng của Đài Loan bao gồm nhiều hệ sinh thái hải dương:

Hệ sinh thái rạn san hô phân bố tại Cao Hùng, Đài Trung, Đài Bắc, Hòn Nhỏ Lục Bảo, Tây Bắc. Các loài san hô xây đảo của Đài Loan có 60 chi, 240 loài, chiếm một phần ba các loài san hô xây đảo trên thế giới. Các loài san hô mềm cũng đa dạng, chỉ trong hải phòng Cao Hùng đã có 130 loài.

Hệ sinh thái rạn đá chủ yếu phân bố ở phía bắc và đông bắc. Các địa hình rạn đá tại Bãi Dài, Động Rồng, Góc Mũi Hệnh cung cấp không gian sinh sống đa dạng. Các loài sinh vật trên bãi biển, như hải thảo, hải dương, dây cuộn, và các loài ống, phong phú đa dạng.

Hệ sinh thái cát và đất phân bố ở hải phòng phía tây. Mặc dù đa dạng sinh học thấp hơn, nhưng khối lượng sinh vật lớn. Các loài kẹo biển, hàu, cua tích trữ nhiều giá trị kinh tế, là nguồn tài nguyên nông nghiệp quan trọng.

Hệ sinh thái biển sâu phân bố ở hải phòng phía đông. Các khu vực sâu hơn 200 mét có các loài cá biển sâu, sinh vật mềm, và sinh vật bằng nhũ. Gần đây phát hiện nhiều loài mới trong hệ sinh thái biển sâu, cho thấy tiềm năng nghiên cứu của sinh học biển sâu Đài Loan.

Hệ thống khu bảo vật sinh quyển

Đài Loan đã thành lập 4 công viên quốc gia hải dương: Cao Hùng, Vòng hòn Đông Sa, Tây Bắc bốn đảo, và Hồng Hải. Tổng diện tích khoảng 350.000 km², trong đó công viên quốc gia Vòng hòn Đông Sa có diện tích lớn nhất, đạt 354.000 km².

Ngoài công viên quốc gia, còn có 26 khu bảo vật do các chính quyền địa phương thiết lập (khu bảo tồn tài nguyên đánh cá), tổng diện tích khoảng 56.000 km². Các khu bảo vật này cấm hoặc hạn chế hoạt động đánh cá, để sinh học hải dương có không gian thở.

Tình trạng hệ sinh thái rạn san hô

Phân bố và đặc điểm rạn san hô

Rạn san hô của Đài Loan chủ yếu phân bố ở phía nam và các đảo. Công viên quốc gia Cao Hùng có diện tích lớn nhất, tỷ lệ phủ rạn san hô khoảng 30-50%. Rạn san hô ở Đài Trung và Đài Bắc được bảo tồn tốt hơn, tỷ lệ phủ lên tới 60-80%. Hòn Nhỏ Lục Bảo dù diện tích nhỏ nhưng đa dạng loài san hô, là đảo duy nhất có rạn san hô trên bờ đất của Đài Loan.

Rạn san hô ở Tây Bắc nổi tiếng với san hô dạng bàn. Do vĩ độ xa Equator, chỉ có các loài san hô chịu lạnh mới sinh tồn. Vòng hòn Đông Sa là duy nhất vòng hòn của Đài Loan, tỷ lệ phủ rạn san hô lên tới 70%, được ca ngợi là "ngọc trai vịnh Nam".

Khủng hoảng trắng san hô

Trắng san hô là thách thức lớn nhất đối với rạn san hô của Đài Loan. Nhiệt độ nước tăng lên là nguyên nhân chính. Các symbiot trong san hô không chịu được nhiệt độ cao, rời bỏ tế bào san hô, dẫn đến mất màu và nguồn dinh dưỡng.

Năm 2020 là năm trắng san hô nghiêm trọng nhất trong lịch sử của Đài Loan. Vào mùa hè, nhiệt độ nước kéo dài vượt 29°C, Cao Hùng, Đài Trung, Đài Bắc đều xảy ra trắng san hô quy mô lớn. Vựa san hô đầu tiên của Cao Hùng bị trắng hơn 90%, còn vựa san hô ở Đài Trung cũng trắng hơn 70%.

Dữ liệu giám sát lâu dài của Trung tâm Đa dạng sinh học Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Trung Hoa Dân Quốc cho thấy, tỷ lệ phủ san hô sống sót của Đài Loan giảm khoảng 50% trong 30 năm qua. Từ trung bình 60% vào những năm 1980, hiện nay chỉ còn khoảng 30%.

Các thách thức khác

Oxy hóa biển là kẻ hủy diệt ẩn cho san hô. Lượng khí CO₂ trong khí quyển tăng, biển hấp thụ CO₂, tạo thành axit carbonic, làm giảm pH nước biển. Nước oxy hóa ảnh hưởng đến quá trình hoạt động vân xương của san hô, khiến san hô tăng trưởng chậm lại.

Chất ô nhiễm bao gồm phân bón nông nghiệp, nước thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp. Quá mức các hợp chất dinh dưỡng như nitrogen, phốt pho khiến tảo biển phát triển quá mức, cạnh tranh sinh sống với san hô. Các chất hoá học trong kem chống nắng cũng được xác nhận ảnh hưởng đến sức khỏe san hô.

Hủy diệt vật lý đến từ hoạt động lặn, câu cá, vỡ nổi tàu. Hành vi không đúng cách khi lặn sẽ làm đạp san hô, lưới kéo cạn sẽ tác động đến bờ biển, lật xe tàu sẽ cắt đứt nhánh san hô. Khu vực Cao Hùng mỗi năm có khoảng 5 triệu người tham gia các hoạt động nước, áp lực quản lý rất lớn.

Sự bùng nổ của san hô ăn san hô là thách thức chu kỳ. Loài san hô chỉ ăn san hô sẽ bùng nổ khi có ít kẻ ăn chủ. Vào năm 2015-2016, khu vực hải phòng Cao Hùng bùng bã họa san hô. Các nhà hộ trợ giúp và người lặn thực hiện hành động loại bỏ quy mô lớn, tổng cộng đã loại bỏ khoảng 30.000 con san hô ăn san hô.

Hành động tái sinh và bảo vật san hô

Phát triển công nghệ tái sinh san hô

Công nghệ tái sinh san hô của Đài Loan dẫn đầu khu vực Đông Nam Á. Công nghệ "giống san hô" được phát triển tại Viện Nghiên cứu Khoa học Trung Hoa Dân Quốc, trước tiên xây dựng vườn trồng san hô trong biển, sau đó chuyển giao cho các vựa san hô bị hư hại. Tỷ lệ sinh vật sống sót có thể lên tới 70-80%.

Bảo vật hành động tái sinh của Bảo tàng Khoa học Hải dương Quốc gia hợp tác nghiên cứu, truyền thông, tham gia cộng đồng. Họ phát triển công nghệ chia nhánh san hô, từ các mẫu nhỏ của san hô lành mạnh trồng thành các cá thể mới.

Australian Institute of Marine Science (AIMS) hợp tác với Đài Loan, giới thiệu công nghệ "phát triển tăng cường san hô". Thông qua các phương pháp như làm quen nhiệt độ, nuôi cấm sinh, giúp tăng cường khả năng chịu nhiệt của san hô. Các "san hô được tăng cường" có thể chịu được nhiệt độ nước cao hơn 2-3°C so với san hô thông thường.

Tham gia nghiên cứu dân sự

"Kiểm tra rạn san hô của Đài Loan" là dự án nghiên cứu dân sự lớn nhất châu Á. Từ năm 2009, mỗi năm có hơn 500 người tham gia kiểm tra rạn san hô. Các thành viên tham gia bao gồm người lặn, người yêu thích hải dương, học sinh trường học, được đào tạo để thực hiện các cuộc khảo sát chuẩn.

Kết quả khảo sát cho thấy, các khu vực có các biện pháp bảo vật tốt hơn (như khu bảo vật, công viên quốc gia) tình trạng rạn san hô tốt hơn. Ví dụ, khu vực bảo vệ hoàn toàn của "Bãi Trắng Lớn" ở Đài Trung, tỷ lệ phủ san hô sống sót duy trì trên 60%.

Cơ chế pháp lý bảo vật

Luật Bảo tồn di sản văn hóa đưa các rạn san hô đặc biệt vào danh mục di tích tự nhiên. Các vựa san hô bị ảnh hưởng tại Cao Hùng và Đài Trung đều được bảo vật pháp lý.

Luật Phòng ngừa ô nhiễm hải dương quy định, tàu thuyền không được bỏ rác hay gây hại đến rạn san hô. Các quy định của luật công viên quốc gia cấm mọi hành động gây hại trong khu vực trung tâm bảo vật. Các chính quyền địa phương cũng thiết lập các quy định quản lý người lặn, hạn chế số lượng người lặn cùng lúc.

Tình trạng và thách thức bảo tồn cá voi

Đa dạng cá voi hải phòng

Hải phòng của Đài Loan ghi nhận 32 loài cá voi, chiếm 37% các loài cá vôi thế giới. Bao gồm cá voi hoả, cá voi ăn mì, cá voi giả hoả, cá voi lưỡi xoắn, cá voi bình non, cá voi trắng. Hải phòng phía đông do gần với biển sâu, có nhiều loài cá vôi lớn; phía tây thì chủ yếu là các loài cá vôi nhỏ.

Cá voi trắng Trung Hoa Dân Quốc (cá voi trắng Trung Hoa Dân Quốc bản địa Đài Loan) là loài phụ động độc đáo của Đài Loan, đồng thời là loài còn rất hiếu đe dọa. Hiện còn khoảng 50 con, phân bố ở hải phòng từ Cao Phong đến Tây Ninh. Do hư hại môi trường sinh sống, đánh cá nhầm lẫn, ô nhiễm, được Liên hợp quốc Bảo tồn thiên nhiên đưa vào danh sách loài cấp độ cực hiếu.

Các thách thức đối với cá voi

Va chạm với tàu thuyền là thách thức lớn nhất đối với các loài cá vôi lớn. Hải phòng phía đông của Hải Lâm, Tây Đông là tuyến đường thương mại quốc tế, có nhiều trường hợp cá voi va chạm với tàu. Vào năm 2019-2021, hải phòng tây của Hải Lâm đã ghi nhận 37 vụ cá voi vỡ nổi, trong đó 13 vụ có dấu hiệu nhầm lẫn tàu thuyền.

Đánh cá nhầm lẫn hàng năm gây ra hàng trăm con cá voi chết. Các loại lưới kéo, lưới dây sẽ kẹt cá voi, dẫn đến chết ngạt. Cá voi trắng Trung Hoa Dân Quốc đặc biệt dễ bị kẹt trong lưới đánh cá nhầm lẫn, là nguyên nhân chính giảm dần số lượng cá voi.

Ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến hệ thống tiếng nhận của cá voi. Tiếng động của động cơ tàu thuyền, công trình hải dương, hoạt động quân sự sẽ làm hoạn nạn tiếng cá voi giao tiếp và tìm kiếm ăn uống. Các loài cá voi lặn sâu như cá voi ăn mì đặc biệt nhạy cảm với tiếng ồn.

Hư hại môi trường sinh sống bao gồm phát triển bờ biển, đổ đất, xây dựng wind farm ngoài khơi. Môi trường sinh sống của cá voi trắng Trung Hoa Dân Quốc chồng lấn với khu công nghiệp phía tây, đang gặp phải vấn đề hư hại môi trường sinh sống nghiêm trọng.

Hành động bảo tồn cá voi

Hiệp hội Bảo tồn cá voi Trung Hoa Dân Quốc là tổ chức bảo tồn cá voi quan trọng nhất của Đài Loan, thành lập vào năm 1999. Họ đưa ra các hành động cứu hộ cá voi, nghiên cứu sinh thái, truyền thông giáo dục, đề xuất chính sách. Mỗi năm xử lý khoảng 100-150 vụ vỡ nổi cá voi.

Mạng lưới hành động bảo tồn cá voi trắng là liên minh chuyên biệt bảo vệ cá voi trắng Đài Loan. Họ giám sát động lực của cá voi trắng, đẩy mạnh luật câu cá thân thiện, đề xuất thiết lập khu bảo vật. Hiện đang kiến nghị thiết lập các khu vực quan trọng của cá voi trắng làm môi trường sinh sống quan trọng của sinh vật hiếu khẩu.

Chuyển đổi ngành kinh doanh ngắm cá voi là mô hình kết hợp bảo tồn và du lịch. Các doanh nghiệp ngắm cá voi tại Hải Lâm, Tây Đông hợp tác nghiên cứu, thu thập dữ liệu quan sát cá voi. Thiết lập các quy tắc ngắm cá voi, duy trì khoảng cách an toàn, tránh làm hại động vật.

Tiến bộ nghiên cứu khoa học

Công nghệ theo dõi bằng vệ tinh cho phép các nhà khoa học theo dõi đường đi di chuyển của cá voi ngay lập tức. Viện Nghiên cứu Đa dạng sinh học của Viện Nghiên cứu Khoa học Trung Hoa Dân Quốc sử dụng các thiết bị theo dõi bằng vệ tinh để theo dõi cá voi ăn mì ở hải phòng Hải Lâm, phát hiện chúng sẽ lặn sâu 2.000 mét để tìm kiếm thức ăn.

Giám sát âm thanh sử dụng các thiết bị ghi âm đáy để ghi lại tiếng cá voi. Các loài khác nhau có các tần số tiếng khác nhau, có thể nhận dạng loài và số lượng. Mạng lưới giám sát âm thanh ở phía đông, phát hiện hoạt động của cá voi có sự thay đổi rõ rệt theo mùa.

Phân tích gen giúp làm rõ cấu trúc quần tử và mối quan hệ thân khẩu của cá voi. Nghiên cứu gen của cá voi trắng Trung Hoa Dân Quốc cho thấy, chúng đã tách rời khỏi cá voi trắng Trung Quốc đại lục thành các quần tử khác nhau, hỗ trợ việc phân loại thành các phụ loài độc lập.

Hiệu quả bảo vật công viên quốc gia hải dương

Công viên quốc gia Vòng hòn Đông Sa

Công viên quốc gia Vòng hòn Đông Sa thành lập vào năm 2007, là công viên quốc gia hải dương đầu tiên của Đài Loan. Diện tích 354.000 km², 99,9% là hải phòng. Các biện pháp bảo vật nghiêm ngặt khiến rạn san hô Vòng hòn Đông Sa giữ được tình trạng tốt, tỷ lệ phủ san hô sống sót duy trì trên 70%.

Công viên ghi nhận 615 loài cá, 286 loài san hô, 405 loài sinh vật mềm. Các loài cá lớn như cá mập, cá voi, cá hồi sinh tồn. Vào năm 2020, lần đầu tiên ghi nhận hành vi tụ tập sinh sản của cá mập ma quỷ tại Vòng hòn Đông Sa.

Nhưng Vòng hòn cũng đối mặt với thách thức. Các tàu cá Trung Quốc xuyên biên giới câu cá, thu thập san hô. Nhiệt độ biển tăng do biến đổi khí hậu cũng khiến rạn san hô xuất hiện tình trạng trắng.

Công viên quốc gia Tây Bắc bốn đảo

Công viên quốc gia Tây Bắc bốn đảo thành lập vào năm 2014, bao gồm Đông Phì Đập, Tây Phì Đập, Đông Kỳ Đảo, Tây Kỳ Đảo và các hải phòng xung quanh. Công viên nhấn mạnh "sự sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên", cho phép cư dân địa phương tham gia các hoạt động câu cá truyền thống.

Rạn san hô của công viên chủ yếu là san hô dạng bàn, thích nghi với môi trường hải dương khắc nghiệt của Tây Bắc. Các chú ướp là loài nổi tiếng của công viên, mỗi năm từ tháng 4 đến tháng 9 có số lượng lớn ướp đến đây để sinh sản. Số lượng ướp sinh sản tại Đông Kỳ Đảo có thể lên tới 100.000 con.

Thách thức quản lý khu bảo vật

Nhân lực không đủ là vấn đề chung của các khu bảo vật hải dương. Việc tuần tra hải phòng cần tàu thuyền, thiết bị, và nhân lực chuyên môn, chi phí cao hơn so với khu bảo vật trên đất liền. Diện tích hải phòng của Công viên quốc gia Cao Hùng khoảng 15.000 km², nhưng chỉ có 10 nhân viên tuần tra hải dương.

Khó thực thi do tính mở của hải phòng. Các hành vi bất hợp pháp như câu cá trái phép, trộm san hô, lặn không hợp pháp khó phát hiện và xử lý ngay lập tức. Gần đây, việc sử dụng máy bay không người lái, máy quay dưới nước giúp tăng hiệu quả tuần tra.

Tham gia cộng đồng là chìa khóa bảo vật lâu dài. Các khu vực như Đài Trung, Đài Bắc, Hòn Nhỏ Lục Bảo phát triển du lịch sinh thái, giúp cư dân địa phương thu lợi kinh tế từ bảo tồn. Nhưng du lịch quá tải cũng có thể gây áp lực môi trường mới.

Tầm nhìn tương lai bảo vật hải dương

Kế hoạch không gian hải dương

Đài Loan đang thúc đẩy "Bản đề xuất chính sách hải dương quốc gia", xây dựng hệ thống kế hoạch không gian hải dương. Sẽ chia hải phòng thành các khu bảo vật, khu khai thác bền vững, khu sử dụng đa mục đích. Mục tiêu là đến năm 2030, diện tích khu bảo vật hải dương chiếm 30% tổng diện tích hải phòng.

Khái niệm "blue carbon" (carbon xanh) đang được chú trọng. Các hệ sinh thái hải dương như rừng treo, đồng cỏ biển, đầm saline có khả năng hấp thụ carbon rất lớn. Bảo vệ các "hệ sinh thái blue carbon" đồng thời đạt được mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và giảm thiểu biến đổi khí hậu.

xu hướng ứng dụng công nghệ

DNA môi trường (eDNA) công nghệ cho phép các nhà khoa học khảo sát nhanh chóng các loài sinh vật. Chỉ cần lấy mẫu nước biển, phân tích các tế bào DNA trong đó, có thể xác định các loài sinh vật có trong khu vực đó. Công nghệ này đặc biệt phù hợp cho việc khảo sát các loài hiếm hoặc sinh vật biển sâu.

Trí tuệ nhân tạo được ứng dụng vào giám sát sinh thái hải dương. AI có thể tự động nhận dạng các loài cá, san hô trong các bức ảnh chụp dưới nước, nâng cao hiệu quả khảo sát. Đại học Đài Loan hợp tác với Microsoft phát triển "hệ thống AI hải dương", có thể tự động phân tích tình trạng sức khỏe của hệ sinh thái rạn san hô.

Nền tảng nghiên cứu dân sự giúp nhiều người dân tham gia bảo tồn hải dương. Các ứng dụng di động như iNaturalist cho phép người lặn, người đánh cá, người dạo bãi biển đóng góp dữ liệu về phân bố sinh vật.

Cơ hội hợp tác quốc tế

Đài Loan đang tham gia tích cực vào mạng lưới bảo tồn hải dương quốc tế. Tham gia vào "Hội đồng Nghiên cứu Rạn san hô Quốc tế", "Hiệp hội Nghiên cứu Cá voi Quốc tế" v.v., chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ bảo tồn.

Hợp tác bảo tồn hải dương với các quốc gia lân cận đang ngày càng quan trọng. Các loài như cá voi, cá voi, cá hồi sẽ di chuyển qua các biên giới, cần có chiến lược bảo vật khu vực. Đài Loan có các dự án hợp tác cụ thể về bảo tồn cá voi với Nhật Bản, Philippines.

"Sứ mệnh phát triển bền vững khu vực Đông Nam Á" nhấn mạnh việc phát triển hải dương bền vững. Đài Loan có thể hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực công nghệ hải dương, công nghệ bảo tồn, và nông nghiệp bền vững với các quốc gia trong khu vực.

Con đường bảo tồn hải dương của Đài Loan vẫn đầy thách thức, nhưng cũng đầy hy vọng. Thông qua việc kết hợp nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, tham gia cộng đồng, hợp tác quốc tế, Đài Loan có cơ hội trở thành một điểm mạnh quan trọng trong việc bảo tồn hải dương Tây Phi. Bảo tồn sinh học hải dương không chỉ vì sinh vật hải dương, mà còn vì tương lai của con người chính thân.

Đọc thêm:

Tài liệu tham khảo

Về bài viết này Bài viết này do cộng đồng cộng tác thực hiện, với sự hỗ trợ của AI trong quá trình biên soạn và thẩm định.
Từ khóa
sinh học hải dương bảo tồn rạn san hô bảo tồn cá voi công viên quốc gia hải dương khu bảo tồn hải dương đa dạng sinh học
Chia sẻ