Nhìn lại 30 giây: Những người lính cứu hỏa tình nguyện Đài Loan từ những cư dân tình cờ tới giúp đỡ, đã trở thành lực lượng ứng phó thảm họa địa phương được tổ chức theo Luật Phòng cháy chữa cháy, được huấn luyện, được đánh giá và tuân theo sự chỉ huy của cơ quan cứu hỏa. Lịch sử của nó có thể được truy tìm đến các tổ chức phòng chữa cháy của thời Nhật trị, và ngày hôm nay lại được phân hóa thành các vai trò chuyên nghiệp như tìm kiếm và cứu hộ khu vực núi, cứu hộ nước, cấp cứu và tuyên truyền phòng cháy. Điều đáng hiểu nhất về nhân viên tình nguyện cứu hỏa, là nó đặt "tình nguyện" vào một hệ thống chính thức, và cũng đưa an toàn phòng cháy trở lại vào từng khu vực lân cận của các đơn vị cụm địa phương.

Hình ảnh: Xe cứu hỏa của Sở Cứu hỏa Đài Bắc, Ảnh của CEphoto, Uwe Aranas, CC BY-SA 3.0. Nguồn: Wikimedia Commons.
Tiếng còi vang lên trước khi đồng phục có sẵn
Sau các thảm họa lớn, quản lý thảm họa Đài Loan bắt đầu coi trọng hơn cách chính phủ địa phương, cơ quan cứu hỏa và các tổ chức dân sự làm việc cùng nhau. Nghiên cứu về các đơn vị cứu hỏa địa phương cho thấy các tổ chức tình nguyện không phải là sự trợ giúp bên ngoài xuất hiện tạm thời vào lúc thảm họa, mà là một mối quan hệ hợp tác cần được nuôi dưỡng hàng ngày trong hệ thống phòng chống thảm họa địa phương.1
Nhưng câu chuyện về nhân viên tình nguyện cứu hỏa còn sớm hơn các chế độ này. Sau khi Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan năm 1895, những người Nhật đến Đài Loan đã thành lập các tổ chức phòng chữa cháy dựa trên kinh nghiệm của quê nhà. Từ năm 1902, chính quyền địa phương giúp người Nhật thành lập các tổ chức phòng chữa cháy, và năm 1921, Toàn quyền phát hành "Luật về tổ chức phòng chữa cháy Đài Loan", các quy định pháp lý và tổ chức của các tổ chức phòng chữa cháy mới được thống nhất từng bước.2
Trong giai đoạn đầu của Nhật trị, phòng chữa cháy thực sự là hai đường chạy cùng một lúc: các thành phố có nhiều tổ chức phòng chữa cháy do người Nhật thành lập, trong khi các khu định cư của người Đài Loan thường do các đơn vị trang phục Bảo giáp đảm nhận các nhiệm vụ chữa cháy. Những người đó có công việc riêng trong ngày, nhưng khi có cảnh báo cháy, họ phải mặc áo phòng chữa cháy, mang theo thiết bị cứu hỏa và chạy đến hiện trường.3
Cảnh tượng này vẫn còn quen thuộc cho đến ngày hôm nay. Những nhân viên tình nguyện có thể đang làm việc tại công trường, phòng khám, nhà máy, cửa hàng hoặc nhà riêng trong ngày. Khi thông báo đến, họ phải rời bỏ cuộc sống hiện tại, chạy đến địa điểm chỉ định, sau đó được hệ thống chỉ huy cứu hỏa sắp xếp vào công tác ứng phó thảm họa.
📝 Ghi chú của người sắp xếp: Mâu thuẫn đầu tiên của nhân viên tình nguyện cứu hỏa, là "tình nguyện viên" không có nghĩa là "tùy tiện". Càng gần hiện trường cháy, càng cần hệ thống để vạch ra ranh giới an toàn cho sự nhiệt tình.
Tình nguyện viên thực sự, lực lượng được quy định pháp luật
Cục Phòng cháy chữa cháy (Bộ Nội vụ) định nghĩa rõ ràng các tổ chức tình nguyện cứu hỏa: chính quyền trực thuộc và tỉnh (thành phố) sắp xếp cư dân địa phương theo Luật Phòng cháy chữa cháy, cung cấp đào tạo chuyên nghiệp và đánh giá định kỳ, nhiệm vụ bao gồm cứu hộ thảm họa, cấp cứu khẩn cấp và tuyên truyền phòng cháy.4
Theo Luật hiện hành về sắp xếp, huấn luyện, tập dượt và công tác phục vụ các tổ chức lính cứu hỏa tình nguyện, Điều 2 quy định rằng nhân viên lính cứu hỏa tình nguyện phải tuân theo mệnh lệnh của nhân viên chỉ huy cứu hỏa và hỗ trợ công tác cứu hỏa. Chính quyền địa phương lập tổng đội, theo nhu cầu công tác lập các đội lớn, đội trung bình và đơn vị cụm, đồng thời phải mua bảo hiểm tai nạn ứng phó thảm họa cho nhân viên tình nguyện.5
Có những điều kiện để tham gia. Nhân viên mới phải từ 18 tuổi trở lên, cư trú tại địa phương, và không thể tham gia cùng lúc các tổ chức tình nguyện hoặc phòng vệ dân sự khác. Người nước ngoài, cư dân từ Lục Địa và Hồng Kông cũng có thể tham gia khi đáp ứng các quy định cấp phép, nhưng không được đưa vào sắp xếp khả năng hộ trợ quân sự.5
Thời gian đào tạo càng nói rõ hơn rằng đây không chỉ là một chiếc áo phông tình nguyện viên. Nhân viên mới phải hoàn thành ít nhất 48 giờ đào tạo cơ bản và ít nhất 24 giờ đào tạo chuyên nghiệp, với ít nhất 24 giờ đào tạo thường niên mỗi năm. Sau khi nhận được thông báo công tác, nhân viên tình nguyện phải chạy nhanh đến địa điểm chỉ định, mặc quần áo theo quy định và đeo trang bị.5
Áo cứu hỏa, mũ, giày, áo mưa, bộ đơn dưỡng khí hoặc trang bị bảo vệ, công cụ tháo dỡ, tất cả đều là trang bị hỗ trợ được liệt kê trong luật pháp. Chúng nói rõ rằng công tác của nhân viên tình nguyện cũng không chỉ là cộng tác bên ngoài hiện trường cháy. Nó phải trở thành một phần của chuỗi ứng phó thảm họa với sự chỉ huy, phân công và quản lý rủi ro.5
Từ một đơn vị chuyển thành nhiều chuyên khoa
Cho đến ngày 1 tháng 1 năm 2026, Cục Phòng cháy chữa cháy liệt kê các tổ chức nhân viên tình nguyện toàn quốc có 23 tổng đội, 158 đội lớn, 267 đội trung bình, 1.169 đơn vị cụm, với tổng cộng 50.328 người. Ngoài các nhân viên cứu hỏa tình nguyện truyền thống, cũng bao gồm nhân viên tuyên truyền tình nguyện, nhân viên cấp cứu tình nguyện, cũng như các nhân viên tình nguyện chuyên khoa được thành lập để phù hợp với đặc điểm thảm họa địa phương như tìm kiếm và cứu hộ khu vực núi, cứu hộ nước, xây dựng và thông tin liên lạc.4
Con số này không có nghĩa là 50.328 người có thể xuất phát cùng lúc mỗi ngày. Đó là số lượng tổ chức, không thể chuyển đổi trực tiếp thành số lượng người có thể được điều động trong một thảm họa cụ thể. Nhân viên tình nguyện có công việc và gia đình riêng, số lượng có thể xuất phát thực tế sẽ bị ảnh hưởng bởi thời gian, khoảng cách, loại công tác, mức độ huấn luyện và chỉ huy tại hiện trường. Bộ dữ liệu thống kê của Cục Phòng cháy chữa cháy cũng chia riêng các sở cứu hỏa tỉnh (thành phố) và số lượng người, cung cấp tải xuống dữ liệu năm 110, nhắc nhở độc giả rằng "tổng lượng" và "lượng khả dụng tức thời" không phải là một vấn đề.6
Nghiên cứu học thuật có mô tả lạnh lùng hơn về sự khác biệt này. Một bài luận thạc sĩ năm 2022 của Đại học Quốc gia Chính Trị Đài Bắc lấy các tổ chức nhân viên tình nguyện cứu hỏa ở Tân Bắc làm ví dụ, chỉ ra rằng nhân viên tình nguyện cứu hỏa phải đối mặt với sự lão hóa lực lượng nhân sự, trang bị và thiếu hụt chuyên môn, tuyển dụng, đào tạo và quản lý dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng đồng thời bởi chính phủ, quản lý, các đặc điểm tổ chức và thay đổi xã hội.7
Nghiên cứu tiếng Anh thì tập trung vào "động viên". Một bài viết nghiên cứu các nhà quản lý đơn vị cứu hỏa địa phương Đài Loan phát hiện rằng, chất lượng sự tham gia công dân trước đó và giao tiếp tỉ lệ thuận với khả năng của các nhà quản lý cứu hỏa khi động viên các tổ chức tình nguyện trong sự kiện khẩn cấp. Các đơn vị cứu hỏa không phải là chờ đợi sự xuất hiện của thảm họa để lần đầu tiên gặp nhân viên tình nguyện, cách giao tiếp hàng ngày sẽ ảnh hưởng đến khả năng hợp tác khi thảm họa xảy ra.8
📝 Ghi chú của người sắp xếp: Giá trị của nhân viên tình nguyện cứu hỏa không chỉ ở "có bao nhiêu người", mà ở việc liệu hàng ngày đã đặt lực lượng, trang bị, kỹ năng và con đường địa phương trên cùng một bản đồ chưa.

Hình ảnh: Cuộc tập trung cứu hỏa ở Đài Bắc, Fred Hsu chụp, CC BY-SA 3.0/GFDL. Nguồn: Wikimedia Commons.
Một bộ con số, đọc được quy mô của chế độ nhân viên tình nguyện
| Chỉ số | Dữ liệu chính thức | Cách đọc |
|---|---|---|
| Tổng nhân viên TN | 50.328 người (ngày 1 tháng 1 năm 2026) | Tổng lượng đăng ký tổ chức, không bằng số lượng có thể xuất phát cùng một thời điểm4 |
| Cấp tổ chức | 23 tổng đội, 158 đội lớn, 267 đội trung bình, 1.169 đơn vị cụm | Sắp xếp chính thức kết nối từ dưới lên từ các đơn vị cụm địa phương45 |
| Đào tạo cơ bản nhân viên mới | Ít nhất 48 giờ | Nền tảng chung để vào chế độ nhân viên tình nguyện5 |
| Đào tạo chuyên nghiệp | Ít nhất 24 giờ | Điểm khởi đầu của đào tạo phân hóa theo nhiệm vụ và chuyên môn5 |
| Đào tạo thường niên | Ít nhất 24 giờ mỗi năm | Để khả năng không dừng lại khi tham gia5 |
Bộ con số này chia "có rất nhiều nhân viên tình nguyện" thành một vài câu hỏi có thể kiểm tra được. Con số trả lời quy mô tổ chức, cấp bậc trả lời cách thức chỉ huy và liên lạc, thời gian đào tạo trả lời cần phải đầu tư bao nhiêu thời gian sau khi tham gia. Chúng không thể thay thế lẫn nhau. Nếu chỉ trích dẫn hơn năm mươi nghìn người, độc giả sẽ không thấy được đào tạo và các đơn vị cụm địa phương mới là các đơn vị hoạt động thực tế.
Phòng chống thảm họa không phải là sản phẩm phụ của hiện trường cháy
Nhiều người nghĩ đến nhân viên tình nguyện cứu hỏa, lần đầu tiên họ nghĩ đến việc kéo dây nước, phá cửa và vận chuyển thiết bị. Nhưng những ghi chép trong Tạp chí Phòng cháy chữa cháy về các đội tuyên truyền phòng cháy phụ nữ đã làm nổi bật một loại công tác khác: đi từ nhà này đến nhà khác kiểm tra việc sử dụng lửa, điện và khí đốt trong gia đình, kiểm tra các tuyến thoát hiểm, quảng bá các thiết bị cảnh báo cháy nhà ở.
Phó đội trưởng tổng đội nhân viên tình nguyện Tân Nam Sơ Tú Liêu tham gia đội tuyên truyền phòng cháy vì chồng là nhân viên tình nguyện cứu hỏa về hưu. Cô và các thành viên đội từng đi từ nhà này đến nhà khác giải thích hiệu quả của các thiết bị cảnh báo nhà ở, và cũng đã gặp các gia đình ba thế hệ mà những người cao tuổi không muốn nghe, thay vào đó là học sinh tiểu học chủ động hỏi, và cuối cùng đồng ý yêu cầu gia đình mua thiết bị cảnh báo.9
Trưởng đội đơn vị trung bình tổng đội nhân viên tình nguyện Đài Bắc Trần Ngọc Phượng tham gia đội tuyên truyền phòng cháy từ năm 91 dương lịch, năm 100 dương lịch nắm quyền trưởng đội, dẫn đội đi sâu vào các cộng đồng và gia đình trong quận Văn Sơn, kiểm tra việc sử dụng điện, khí đốt và các tuyến thoát hiểm.9
Loại công tác này rất khó cắt thành những đoạn anh hùng. Kết quả của nó có thể chỉ là một thiết bị cảnh báo được lắp trên tường, một hành lang chứa đầy những thứ khác được dọn sạch, hoặc là một gia đình cuối cùng biết phải chạy về phía nào khi cháy xảy ra vào ban đêm. Khi thảm họa không xảy ra, thường là kết quả tốt nhất của nó.
Tạp chí Phòng cháy chữa cháy một bài phỏng vấn khác ghi chép tình nguyện viên tuyên truyền phòng cháy Đài Bắc Trịnh Mỹ Phúc. Cô tự năm 86 dương lịch bắt đầu đi thăm các cộng đồng, Cục Phòng cháy chữa cháy chính thức thành lập các tổ chức tình nguyện cứu hỏa năm 91 dương lịch, cô tiếp tục phục vụ trong hơn hai mươi năm. Bài viết cũng làm rõ rằng, các tổ chức nhân viên tình nguyện cứu hỏa có tính chất khu vực và cộng đồng, tổ chức bao gồm bốn cấp tổng đội, đội lớn, đội trung bình, và đơn vị cụm.10
Vấn đề thật sự, không phải là sự nhiệt tình có đủ không
Chế độ nhân viên tình nguyện cứu hỏa dễ dàng được viết thành một câu chuyện cảm động, nhưng những vấn đề thật sự của nó rất cụ thể: lực lượng nhân sự có thể bổ sung vào không, đào tạo có thể theo kịp không, trang bị có thích hợp không, các cơ quan cứu hỏa địa phương có thể đặt những tình nguyện viên vào đúng vị trí không.
Báo cáo phân tích tổn thương nhân viên cứu hỏa năm 111 dương lịch của Cục Phòng cháy chữa cháy, chia công tác cứu hỏa thành cứu hộ cháy, cấp cứu khẩn cấp, cứu hộ thảm họa, huấn luyện tập dượt, công tác khác và tai nạn giao thông, và chia riêng phân tích nhân viên lính cứu hỏa tình nguyện và lực lượng thay thế dự bị. Báo cáo yêu cầu các cơ quan cứu hỏa điều tra những sự kiện tổn thương và gần như lỗi, sau đó đưa ra các đề xuất cải thiện.11
Điều này rất quan trọng. Nếu nhân viên tình nguyện cứu hỏa được coi là "lực lượng miễn phí", đào tạo và an toàn sẽ được đặt ở phía sau. Nếu được coi là những người ngoài hoàn toàn không thể chạm vào, địa phương lại mất một lực lượng quen thuộc với khu vực cộng đồng, con đường và cư dân. Công việc của chế độ, là vạch ra ranh giới giữa cần giúp đỡ và không nên mạo hiểm.
Nghiên cứu quản lý nhân viên tình nguyện cứu hỏa Tân Bắc đặt vấn đề trực tiếp hơn: sau khi cấu trúc xã hội thay đổi, loại thảm họa trở nên phức tạp, các tổ chức trước đây dựa vào bạn bè và sự nhiệt tình để duy trì, phải đối mặt với việc thiết kế lại quy trình tuyển dụng, đào tạo, chuyên nghiệp hóa và quản lý.7
Câu chuyện của những nhân vật địa phương cũng phản ánh sự chuyển đổi này. Sở Cứu hỏa Tỉnh Bình Đông ghi chép, trưởng đội lớn nhân viên tình nguyện cứu hỏa Hằng Xuân Hoàng Minh Điển từ năm 83 dương lịch tham gia, từng đến hiện trường trong vụ sạt lở Đại Sơn Mẫu năm 111 dương lịch, hỗ trợ thành lập một đội tìm kiếm cứu hộ nhỏ. Nhân viên tình nguyện cứu hỏa không chỉ xuất hiện trong những vụ cháy nhà riêng, mà cũng có thể bước vào tìm kiếm cứu hộ khu vực núi, hợp tác y tế và mạng lưới tư vấn chuyên gia.12
Trang này cũng còn ghi chép lý do tham gia của trưởng đơn vị cụm nhân viên tình nguyện cứu hỏa Bàn Lão Vương Triều Kỳ: anh từng chứng kiến cứu hộ cứu hỏa vì gia đình bị cháy, sau này khi làm việc tại địa phương khác nghe tiếng còi cảnh báo, anh đã lấy áo cứu hỏa chạy về hiện trường. Đoạn câu chuyện này kết nối một người có ký ức gia đình, với chế độ địa phương.12
📝 Ghi chú của người sắp xếp: Điều khó nhất của nhân viên tình nguyện cứu hỏa, là để những người tham gia có đủ đào tạo, trang bị an toàn và lý do để ở lại lâu dài.
Ngoài hiện trường thảm họa, vẫn còn một bộ hợp tác hàng ngày

Hình ảnh: Trạm cứu hỏa Dân Hùng Gia Nghĩa, Tbatb chụp, CC BY-SA 4.0. Nguồn: Wikimedia Commons.
Công tác của nhân viên tình nguyện cứu hỏa không chỉ xảy ra trên bảng công tác xuất phát. Luật pháp chia đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên nghiệp, đào tạo cán bộ và đào tạo thường niên, điều này có nghĩa là các cơ quan cứu hỏa địa phương phải đặt khả năng ở các mức độ khác nhau vào các khóa học khác nhau, không thể chỉ dùng một cuộc tập dượt duy nhất để xác định liệu một người có thích hợp để vào hiện trường hay không. Đào tạo cũng không chỉ là vận hành thiết bị, mà còn liên quan đến các mối quan hệ chỉ huy trong khi phục vụ, cách đeo trang bị, phương thức tập hợp và kiểm tra sau sự cố.5
Bộ Phòng cháy chữa cháy trong giải thích tổ chức chia nhân viên tình nguyện cứu hỏa chức năng thành nhiều con đường tương tác. Nhân viên tình nguyện cứu hỏa truyền thống xử lý cháy và cứu hộ thảm họa, nhân viên tình nguyện cấp cứu hỗ trợ cấp cứu khẩn cấp, nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng cháy đưa kiến thức phòng cháy vào cộng đồng, trong khi nhân viên tình nguyện chức năng bổ sung khả năng tìm kiếm khu vực núi, nước, xây dựng hoặc thông tin theo nhu cầu địa phương. Điều này không phải là huấn luyện tất cả mọi người thành cùng một loại nhân viên cứu hỏa, mà là để địa phương sở hữu các nút chuyên môn có thể tương tác với nhau.4
Những điểm nút này cần thường xuyên giao tiếp. Nghiên cứu tiếng Anh chỉ ra rằng, khả năng của các nhà quản lý cứu hỏa địa phương có thể động viên các tổ chức tình nguyện, có liên quan đến sự tham gia công dân trước đó và chất lượng giao tiếp. Nói cách khác, đợi cho đến khi thảm họa xảy ra rồi mới hỏi tạm thời "ai biết lái thuyền" "ai quen con đường núi" "ai có thể xử lý tòa nhà sạt lở", đó là quá muộn rồi. Hợp tác địa phương tốt, nên hoàn thành danh sách, huấn luyện và xác nhận vai trò trong những ngày không có thảm họa.8
Trường hợp Bình Đông làm khái niệm này trở nên cụ thể. Sở Cứu hỏa địa phương ghi chép, Hoàng Minh Điển khi nắm quyền nhân viên tình nguyện cứu hỏa Hằng Xuân đã tuyển dụng những chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau để làm cố vấn, thúc đẩy huấn luyện định kỳ của từng đơn vị nhỏ, và phối hợp với các tổ chức cứu hộ dân sự hỗ trợ công tác. Vai trò này không phải là đơn giản tăng số lượng người xuất phát, mà là kết nối y tế, khu vực núi, các tổ chức dân sự và các cơ quan cứu hỏa vào cùng một ứng phó thảm họa địa phương.12
Tuyên truyền phòng cháy cũng cần sự hợp tác lâu dài tương tự. Cuộc phỏng vấn Trịnh Mỹ Phúc cho thấy, nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng cháy phải biến chính sách cứng nhắc thành ngôn ngữ sinh hoạt mà cư dân có thể hiểu, và liên tục đi sâu vào cộng đồng. Lần thăm hỏi của Trần Ngọc Phượng thì tập trung vào việc sử dụng điện, khí đốt và các tuyến thoát hiểm. Cả hai loại công tác đều không có ngọn lửa làm tâm điểm hình ảnh, nhưng trực tiếp ảnh hưởng đến các điều kiện trước khi cháy xảy ra.910
Vì vậy, nhân viên tình nguyện cứu hỏa không nên chỉ được nhìn thấy trong thống kê thảm họa. Khi một đơn vị cụm quen với những con hẻm, nhà máy, con đường núi, sông ngòi và cư dân cao tuổi trong khu vực dưới sự quản lý, những kiến thức địa phương này là những phần không dễ bị thay thế bởi cơ sở dữ liệu trung ương trên bản đồ cứu hỏa. Giá trị của nó không thể chỉ được đo bằng "đã cứu bao nhiêu người", mà còn bao gồm để cho các chỉ huy biết trong thảm họa trước có thể tìm ai, để cho cư dân sau thảm họa biết nên xin cứu giúp ai.
Vai trò nhân viên tình nguyện cứu hỏa không phải là phân cấp trên dưới, mà là những giao diện địa phương khác nhau
| Vai trò | Công tác chính | Ví dụ thực tế và hạn chế trong bài viết |
|---|---|---|
| Nhân viên tình nguyện cứu hộ | Hỗ trợ cứu hộ cháy và thảm họa theo chỉ huy cứu hỏa | Cần đào tạo cơ bản, chuyên nghiệp và thường niên, không thể dùng nhiệt tình thay thế yêu cầu hiện trường45 |
| Nhân viên tình nguyện cấp cứu | Hỗ trợ cấp cứu khẩn cấp và chăm sóc trước khi tới viện | Cần duy trì liên tục kỹ thuật, rủi ro công tác cũng bao gồm giao thông và vận chuyển1112 |
| Nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng cháy | Thăm hỏi gia đình, tuyên truyền thiết bị cảnh báo nhà ở, an toàn sử dụng lửa và điện | Kết quả thường là thảm họa không xảy ra, khó hiện thị bằng một con số xuất phát đơn lẻ910 |
| Nhân viên tình nguyện chức năng | Bổ sung khả năng tìm kiếm khu vực núi, nước, xây dựng hoặc thông tin theo nhu cầu địa phương | Chuyên nghiệp hóa nâng cao giá trị hợp tác, cũng tăng gánh nặng quản lý đào tạo và trang bị47 |
Bảng này cũng giải thích tại sao "số lượng nhân viên tình nguyện cứu hỏa" không thể trực tiếp bằng "lực lượng cứu hỏa có thể sử dụng". Nội dung huấn luyện, điều kiện xuất phát và vị trí chỉ huy của các vai trò khác nhau là khác nhau, đơn vị cụm vẫn phải xác nhận thời gian làm việc, chăm sóc gia đình và khoảng cách giao thông của từng người. Nếu chỉ theo đuổi một con số đẹp trong báo cáo hàng năm, dễ dàng bỏ qua những chi tiết thực sự quyết định chất lượng xuất phát.
Ranh giới an toàn của nhân viên tình nguyện cứu hỏa cũng cần được nói rõ. Phân tích sự cố của Cục Phòng cháy chữa cháy đưa nhân viên tình nguyện cứu hỏa vào đối tượng điều tra các sự kiện tổn thương và gần như lỗi, điều này có nghĩa là chế độ công nhân dịch vụ tình nguyện cũng sẽ tạo ra rủi ro an toàn lao động. Đối với nhân viên tình nguyện cứu hỏa, từ chối một nhiệm vụ không phù hợp với bản thân không phải là rút lui, mà là để cho chuỗi chỉ huy biết hiện trường còn thiếu khả năng gì. Đối với các cơ quan cứu hỏa, cung cấp trang bị, đào tạo, bảo hiểm và kiểm tra sau sự cố, mới là cách coi dịch vụ tình nguyện như một phần của chế độ an toàn công cộng.511
Một đơn vị cứu hỏa, mọc lên trong ký ức địa phương
Phỏng vấn nhân vật của Sở Cứu hỏa Tỉnh Đài Đông ghi chép phó đội trưởng nhân viên tình nguyện cứu hỏa Trường Bình Ôn Vinh Phong tham gia từ năm 92 dương lịch, vẫn sử dụng "người về hưu trái tim không về hưu" để mô tả mối quan hệ của anh với nhân viên tình nguyện cứu hỏa. Một nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng chống thảm họa khác Trần Mỹ Liên tham gia từ năm 97 dương lịch, phục vụ hơn mười năm.13
Những câu chuyện này không thể chứng minh rằng tất cả nhân viên tình nguyện cứu hỏa sẽ ở lại hai mươi năm, cũng không thể được sử dụng để che dấu lão hóa lực lượng nhân sự và gánh nặng huấn luyện. Điều họ có thể nói rõ là: tuổi thọ tổ chức của nhân viên tình nguyện cứu hỏa, thường được xây dựng trên các mối quan hệ địa phương, sự hỗ trợ gia đình và sự truyền kỹ thuật thế hệ này cho thế hệ khác.
Từ nhân viên tổ chức phòng chữa cháy dưới thời Nhật trị có công việc riêng vào ban ngày, chỉ mặc đồng phục khi có cảnh báo cháy, cho đến ngày hôm nay bị quy định pháp luật quản lý, chia thành nhiều chuyên môn, chế độ đã thay đổi, nhưng cảnh tượng lõi vẫn chưa hoàn toàn biến mất: một người đang sống cuộc sống của mình, sau khi tiếng còi vang lên, anh phải quyết định có nên mặc chiếc áo phòng chữa cháy đó hay không.
An toàn phòng cháy của Đài Loan vì vậy không chỉ là câu chuyện của một bộ máy chính phủ, mà còn là câu chuyện về cách một xã hội địa phương đặt thời gian, kỹ năng, lòng tin và rủi ro cùng nhau. Nhân viên tình nguyện cứu hỏa không phải là giải pháp lãng mạn cho thiếu hụt lực lượng cứu hỏa. Nó giống như một cây cầu cần được bảo trì liên tục: một đầu kết nối hệ thống cứu hỏa chính thức, đầu kia kết nối với mỗi cộng đồng nơi mọi người vẫn sống sau giờ làm việc.
Đọc thêm
- Trận Động đất Tập Tập Năm 921 (Chí Chí) — Thảm họa làm thế nào để thay đổi chế độ phòng chống thảm họa của Đài Loan và ký ức tập thể.
- Phong trào xã hội và sự tham gia công dân — Mở rộng sự hiểu biết về tình nguyện viên Đài Loan từ dịch vụ tình nguyện.
- Phát triển đô thị Đài Loan và khoảng cách giữa thành thị và nông thôn — Sự khác biệt về tài nguyên địa phương ảnh hưởng đến cách phản ứng thảm họa như thế nào.
Nguồn hình ảnh
Bài viết sử dụng 1 hình ảnh CC được phép làm hình chính, cache tại public/article-images/society/ để tránh hot linking tới máy chủ nguồn:
- Xe cứu hỏa Sở Cứu hỏa Đài Bắc — Ảnh: CEphoto, Uwe Aranas / Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0
Tài liệu tham khảo
- Wu, Chang & Collins:Mobilizing Voluntary Organizations in Taiwanese Emergency Response — Bài nghiên cứu năm 2015 từ Tạp chí Châu Á Đông Đương Đại, giải thích kiến trúc quản lý thảm họa sau động đất Chí Chí, và các điều kiện để các đơn vị cứu hỏa địa phương động viên các tổ chức tình nguyện.↩
- Thư viện Quốc gia Đài Loan: Thông tin Đài Loan Kỳ 90 / Phòng cháy chữa cháy — Trang chuyên đề phòng cháy chữa cháy năm 2015 của Thư viện Quốc gia Đài Loan, sắp xếp các mốc lịch sử của chế độ phòng chữa cháy gần đây của Đài Loan và tổ chức nhân viên tình nguyện cứu hỏa từ năm 1895, 1902, 1921.↩
- Thái Tú Mỹ:Từ nhân viên cứu hỏa bình thường đến Cục Phòng cháy chữa cháy đặc biệt — Bài viết đăng trên Tạp chí Lịch sử của Đại học Quốc gia Sư phạm Đài Loan, phân tích sự phát triển hai đường của các tổ chức phòng chữa cháy, đơn vị trang phục bảo giáp và chế độ cứu hỏa bình thường dưới thời Nhật trị.↩
- Cục Phòng cháy chữa cháy Bộ Nội vụ:Tổ chức nhân viên tình nguyện cứu hỏa — Giải thích chế độ chính thức của Cục Phòng cháy chữa cháy, cung cấp nhiệm vụ nhân viên tình nguyện cứu hỏa, cấp tổ chức, loại chuyên môn, điều kiện tham gia và dữ liệu số lượng người tháng 1 năm 2026.↩234567
- Hệ thống Truy vấn Luật pháp do Bộ Nội vụ Quản lý:Luật về sắp xếp, huấn luyện, tập dượt và công tác phục vụ các tổ chức lính cứu hỏa tình nguyện — Luật hiện hành được sửa đổi vào ngày 5 tháng 8 năm 114 dương lịch, quy định từng điều về chỉ huy, tổ chức, trình độ chuyên môn, đào tạo, công tác, trang bị và bảo hiểm của nhân viên tình nguyện cứu hỏa.↩234567891011
- Nền tảng Mở dữ liệu Chính phủ:Thống kê nhân viên tình nguyện cứu hỏa toàn quốc — Bộ dữ liệu thống kê nhân viên tình nguyện cứu hỏa toàn quốc do Cục Phòng cháy chữa cháy cung cấp, liệt kê các trường tỉnh (thành phố) và số lượng người, cung cấp tải xuống tài nguyên dữ liệu năm 110.↩
- Tấu Bội Châu:Khám phá quản lý tình nguyện viên phòng chống thảm họa - Ví dụ từ tổ chức nhân viên tình nguyện cứu hỏa Tân Bắc — Luận văn thạc sĩ năm 2022 của Đại học Quốc gia Chính Trị Đài Bắc, phân tích các khó khăn chế độ của nhân viên tình nguyện cứu hỏa trong lực lượng nhân sự, trang bị, chuyên môn, tuyển dụng và đào tạo từ góc độ quản lý tình nguyện viên.↩23
- Wu, Chang & Collins:Mobilizing Voluntary Organizations in Taiwanese Emergency Response — Trang DOI của bài viết học thuật tiếng Anh, nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhà quản lý cứu hỏa địa phương Đài Loan, chất lượng giao tiếp và sự tham gia công dân trước đó đối với động viên các tổ chức tình nguyện.↩2
- Tạp chí Phòng cháy chữa cháy:Tuyên truyền phòng cháy 20 năm luôn luôn như một — Báo cáo nhân vật từ Tạp chí Phòng cháy chữa cháy của Bộ Nội vụ, ghi chép cảnh tượng thực tiễn của Sơ Tú Liêu và Trần Ngọc Phượng bước vào gia đình, quảng bá thiết bị cảnh báo nhà ở và kiểm tra an toàn thoát hiểm gia đình.↩234
- Tạp chí Phòng cháy chữa cháy:Không sợ gió và mưa, sứ mệnh phải thực hiện, bước vào gia đình để thực hiện giáo dục tuyên truyền phòng cháy — Phỏng vấn Tạp chí Phòng cháy chữa cháy với Trịnh Mỹ Phúc, ghi chép dịch vụ cộng đồng lâu dài của nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng cháy và cấu trúc tổ chức bốn cấp của nhân viên tình nguyện cứu hỏa.↩23
- Cục Phòng cháy chữa cháy Bộ Nội vụ:Báo cáo phân tích chi tiết thống kê tổn thương nhân viên cứu hỏa năm 111 dương lịch — Báo cáo phân tích cơ sở dữ liệu an toàn do Cục Phòng cháy chữa cháy ủy thác thực hiện, đưa nhân viên tình nguyện cứu hỏa vào phân loại thống kê các rủi ro sự cố, công tác, huấn luyện và giao thông.↩23
- Sở Cứu hỏa Tỉnh Bình Đông:Bảng Danh dự / Phỏng vấn Nhân vật — Dữ liệu nhân vật từ Sở Cứu hỏa địa phương, ghi chép các lý do tham gia của nhân viên tình nguyện cứu hỏa Hằng Xuân và Bàn Lão, cứu hộ sạt lở đất và cháy, cũng như huấn luyện chuyên nghiệp và hợp tác địa phương.↩234
- Sở Cứu hỏa Tỉnh Đài Đông:Phỏng vấn Nhân vật — Khu vực nhân lực dân sự của Sở Cứu hỏa Tỉnh Đài Đông, thu thập nhân viên tình nguyện cứu hỏa, nhân viên tình nguyện tuyên truyền phòng chống thảm họa, gương sáng địa phương và năm dịch vụ cũng như cảm nhận của họ.↩